Xem Nhiều 1/2023 #️ Tướng Đầu: Hình Dạng Đầu Trong Tướng Pháp # Top 4 Trend | Ica-ac.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tướng Đầu: Hình Dạng Đầu Trong Tướng Pháp # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tướng Đầu: Hình Dạng Đầu Trong Tướng Pháp mới nhất trên website Ica-ac.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Khung hình xương đầu thế nào thì bộ óc bên trong cũng bị ảnh hưởng cấu hình. Bác sỹ chúng tôi và bác sỹ Giáo sư Rorschach người Đức đã nhận định như vậy qua giải phẫu.

1. Các hình dạng đầu

Các hình dạng đầu (bao gồm đặc biệt và bình thường) và thông tin dự báo về tướng pháp.

Dáng tròn: Thông tuệ, giàu, sang.

Dáng to vuông: Quyền uy, dũng mãnh.

Dáng hóp: Kém cỏi, ít phúc hậu.

Dáng bẹt (cá trê): Bần tiện.

Đầu vẹo: Hèn mọn, tầm thường.

Đầu gồ ghề, u bướu: Bướng bỉnh, bần tiện.

Đầu gồ hai bên thái dương: Sông khỏe, gặp may nơi ngoại quán, giàu có (gồ đầy vùng thiên tri trong 12 cung ở mặt).

Đầu có xương trồi cao trên hai tai: Rất thọ.

Đầu có xương nổi sông ở giữa đầu (từ huyệt Bách Hội đến vùng thóp: Người có tài sư phạm (giảng dạy tốt), trí tuệ minh mẫn, giáo hoạt, nhưng không giầu.

Ngoài những khung hình đầu đặc biệt ấy ra và cho ta những thông tin dự báo đặc trưng đã nói, còn lại là hình đầu bình thường thì cuộc sông cũng bình dị, trí tuệ thông thường.

2. Phần thóp đầu

Trong toàn bộ khung xương của cơ thể, của con người, xương đầu được hoàn chỉnh tức định hình sau cùng. Nghĩa là cho mãi đến khi đứa trẻ sinh ra phải 6 tháng đến 1 năm tuổi khung xương đầu mới đầy đủ, thóp mới kín.

Thóp vùng đầu sát trán ở 3/5 đỉnh đầu. Thóp trẻ rất quan trọng, nó có thể rộng hẹp; Hình tam giác hay hình thang cân v.v…

Sự rộng hẹp của thóp không hoàn toàn phụ thuộc vào sự tạo xương của đứa trẻ hay do hậu thiên nuôi sống đứa trẻ thiếu can xi, còi xương mà thế đâu. Đứa trẻ nhanh đầy thóp, thóp hẹp thì khỏe? Cái đó chưa hoàn toàn đúng. Việc chóng liền thóp hay liền thóp, nghĩa là: trẻ em sinh ra cần đến một khoảng thời gian sau từ sáu tháng đến hết một năm (tùy từng trẻ) không hoàn toàn lệ thuộc vào việc nuôi dưỡng đứa trẻ. Nó cũng được ‘Tập trình” siêu nhiên từ trước và là cửa mở vào vũ trụ.

Thóp là nơi tiếp nhận thông tin trực tiếp từ “Đấng tối cao” vũ trụ. Nơi tiếp nhận “thiên năng” thường xuyên để hoàn chỉnh năng lực hoạt động trí tuệ; nơi cung cấp năng lượng vũ trụ cho việc phát triển thần khí của lục phủ ngũ tạng, các giác quan và ngũ nhạc của trẻ.

Nguồn “thiên năng” này vô cùng quan trọng đối với trẻ. Ngoài các đại huyệt – “luân xa” là các điểm tiếp nhận thiên năng, thì thóp không chỉ có vai trò tiếp nhận thiên năng mà còn là nơi tiếp nhận thông tin “điều hành” trực tiếp từ “vũ trụ” để tiếp tục hoàn thiện bản năng; hình thành nhân cách và trí tuệ – được dạy bảo cho trẻ khi mà đứa trẻ chưa tự học được các bản năng của con người. Các cụ thường bảo “bà mụ dạy” rồi “bà mụ đỡ”. Đó là những câu người lớn thường thốt ra khi nhìn thấy trẻ sơ sinh có những biểu hiện bản năng con người như: cười, mếu, khóc, động chân, tay, khi trẻ ngủ. Và ý nghĩ ấy được truyền miệng từ người này đến người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Khi đứa trẻ vô tình bị làm ngã hay bị ngã khi tập đi (8, 9 tháng tuổi) thì đều được an ủi, hay tự an ủi bằng câu: có “bà mụ đỡ”. Vậy “bà mụ” ở đây là ai?

Một hiện tượng tự nhiên ấy nhưng cũng chưa có một học giả nào ở Đông, Tây, Cổ, Kim nghiên cứu cả!

Những trẻ mạnh bạo – “tiên thiên ” tốt. Nghĩa là nó được tiếp nhận tốt “nguyên khí thiên địa” nhiều, khi nó được hình thành trong “bào” (tử cung) của người mẹ. Các nhà hiền triết cổ xưa đều khẳng định một quan điểm chung là: người được hình thành nhờ khí của trời – cụ thể các tinh tú và từ tinh của đất – năng lượng của quả đất. Năng lượng này được nạp vào con người qua các thức ăn mà con người dùng. Năng lượng của quả đất đang chứa trong vạn vật sống trên nó, nhưng cũng có thiên khí dự phần cùng. Thiên khí không nhìn thấy như không khí vậy. Song nó vẫn tồn tại.

Các “luân xa” tồn tại “mở” suốt một đời người. Đây là nguyên tắc, thiên định, nhằm bổ sung thiên năng của con người “Chứ các luân xa không tự đóng lại”. Nó chỉ bị bịt lại vì một nguyên nhân cơ học hoặc bệnh lý mà thôi. Các nhà cảm xạ học cho rằng họ có thể khai mở ‘Luân xa” bằng năng lượng của họ là điệu mị người mà thôi chứ không từ quan điểm khoa học! Đúng ta có thể hồi phục sự thông thoáng trở lại của các “luân xa” bằng nhiều phương pháp khoa học khác nhau. Và trong tương lai khi vấn đề này được các nhà thông thái nghiên cứu thì sẽ được sáng tỏ hơn. Luân xa đã có sao phải khai mở? Thật hoang tưởng.

12 luân xa thì còn tồn tại mở (theo lý thuyết) suốt đời con người. Bởi vì nó còn chức năng và “nhiệm vụ” được giao của một nơi huyền bí.

Thóp thì sau 6 tháng đến 1 năm tuổi, có trường hợp ngoại lệ nó được mở lâu hơn đến 2 năm. Tuỳ thuộc “nhiệm vụ” được giao chưa hoàn thành ở trẻ sơ sinh rồi mới đóng hết. Thông tin điều hành cắt.

Thóp là cổng thông tin liên lạc với vũ trụ của con người khi bé, khi bộ óc mới đạt 80% năng lực. Quan điểm này khó nhận thức nhưng không phải là vấn đề nhảm nhí và mê tín. Hãy mặc đó, khi ý tưởng còn cần thời gian để minh chứng.

Về vấn đề liền thóp sẽ có hậu quả là tạo ra những trí tuệ khác nhau giữa người này và người khác. Và nó được hiện hình qua tướng mạo: phú quý, bần tiện… (mệnh) thông minh, thọ, yểu… (thân).

Như vậy tướng (thân) gắn liền với số (mệnh). Ông Lưu Hiệp trong “tân luận” có bàn rằng: “Mệnh là căn bản của đời người. Tướng là trợ thủ cho mệnh mà thành. Mệnh không hiện hình. Tướng thì hiện hình. Có mệnh thì nhất định có tướng. Có tướng nhất định có mệnh. Tướng, mệnh của người như: hiền, ngu, quý, tiện, thọ, yểu… do kết thai (thai nhi) chế khí, tiếp khí hậu mà sinh ra (ở đây tác giả muốn nói chế khí chính là năng lượng của quả đất (địa năng), còn tiếp khí hậu là thiên năng từ vũ trụ).

3. Tướng thóp

Thóp, có người đầy đặn nổi cao: Tướng giầu, trí tuệ. Khí lực dồi dào, năng lực lớn, đa tài.

Thóp thấp bằng: Năng lực bình thường.

Thóp lõm: Hèn yếu, trí tuệ kém, nghèo.

Điều mới lạ từ quan điểm thóp. Những năm giữa thế kỷ 20, nhiều người đi tiên phong trong nghiên cứu về thóp. Họ cũng đã có quan niệm đầu là nơi tiếp nhận “thông tin ” và “năng lượng” từ vũ trụ. Khi còn bé “cổng thông tin ” đó là thóp. Lớn lên cổng thông tin này bị lấp lại. Từ đó con người ta không còn được “tiếp nhận sự chỉ dạy và năng lượng” từ vũ trụ nữa.

Và rằng sau khi khoan thủng sọ mình, họ thấy trí tuệ họ trở nên siêu việt và khoan khoái lạ thường. Tất nhiên làm việc tiên phong này đã có hai vợ chồng hành nghề y. Từ đó đến nay chưa có thêm người tiếp tục thực nghiệm ý tưởng “điên khùng” này. Song thực ra thì những người đã thực nghiệm tự khoan sọ mình cũng chưa có sự kiểm chứng, so sánh trí tuệ trước và sau khi khoan sọ cùng nhóm người làm chứng. Vì vậy mà không có nhiều người dám liều lĩnh thực hiện tiếp theo.

Ngoài thóp đã bị đóng lại khi trẻ 1 tuổi người ta còn Đại huyệt Bách hội (ở giữa đỉnh đầu) vẫn là nơi giao tiếp với bên ngoài. Nhiều phép dưỡng sinh đã lợi dụng huyệt này để thu “thiên năng”. Và đông y dùng trong xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu v.v… để chữa bệnh. Song có lẽ do huyệt Bách hội chỉ có một lỗ siêu nhỏ nên việc tiếp nhận “thông tin và thiên năng” bị hạn chế tối đa. Các nhà cảm xạ học, thần kinh học, các đạo sỹ Ân Độ, Tây Tạng, Miama, Nhật Bản v.v… rất quan tâm tới huyệt đạo này và đã áp dụng nhiều phương pháp khai thác nó.

4. Tướng xương hậu chẩm

Người ta có khái niệm ngọc chẩm vì xương này ở sau đầu nổi cao hình chiếc bánh dầy. Xương hậu chẩm nổi thành gò, nhưng cũng có người xương này gần như không hằn rõ ở đầu.

Xương hậu chẩm trong tướng lý là phên dậu phía sau. Nó là đồn luỹ chặn hậu (nghĩa phong thủy) của đầu và tướng mặt.

Về tướng pháp nó được xem xét cẩn thận và từ đó ta cũng có thông tin. Vậy xương hậu chẩm (ngọc chẩm) được xem xét như thế nào.

Các kiểu xương hậu chẩm

Xương hậu chẩm có nhiều xương nhỏ hợp thành và vì thế hình dạng khác biệt nhau ở một số người.

Có một xương nhô hướng lên trên (người Hoa gọi là Yến Nguyệt chẩm). Người có như vậy có thể làm quan chức.

Một xương mà gấp khúc hướng xuống (phục nguyệt chẩm). Người có xương chẩm như vậy có thể làm đến cấp bộ.

Có 2 xương nhọn và nhô cao (song long). Người có xương chẩm này có thể làm tướng.

Có 2 xương gấp khúc đôi nhau (tưởng bôi chẩm). Người có xương chẩm như trên giỏi cả văn lẫn võ.

Hai xương này trên dưới rõ ràng thì làm quan võ cao cấp. Người Hoa gọi là có (tam tinh chẩm).

Có 3 xương đầu tròn (tam tai chẩm). Người có hậu chẩm như thế có thể làm đến thủ tướng chính phủ, chủ tịch, tổng thống.

Có bôn xương; xương ở giữa nhô cao hơn cả (ngũ nhạc chẩm). Người có xương hậu chẩm như vậy có thể được phong danh hiệu cao quý, suốt đời hưởng lộc.

Hình dáng đặc biệt là xưởng chẩm nổi đều bốn phía ở giữa trũng xuống thành hố (xa trừu chẩm). Người có hậu chẩm như thế có thể làm đến phó thủ tướng chính phủ, phó chủ tịch nước.

Xương hậu chẩm bằng phẳng không phân biệt với đầu nhiều. Người như vậy thì không có chức phận xã hội.

Xương hậu chẩm ẩn dưới tóc vì vậy nếu không cắt tóc trọc thì chỉ có thể sờ nắn mới rõ. Ngay cả khi đầu trọc lốc cũng cần sờ kỹ mới biết đích xác. Tướng hậu chẩm cũng chỉ tham khảo vì thực chất là:

Hậu chẩm nổi cao là người tinh tế, khéo léo, tài hoa, vì thê nó biễu hiện tiễu não phát triển tốt.

Hậu chẩm bằng phẳng tức tiểu não bình thường. Như vậy sẽ là người vụng về, chậm chạp.

Suy diễn logic thì rõ ràng những người như thế làm gì có thể đảm đương việc lớn, việc xã hội. Những hình dạng xương hậu chẩm trên đều là hình dạng đặc biệt. Vì vậy nó cũng có chức phận đặc biệt.

Ngoài các hình đặc biệt của xương hậu chẩm còn thêm các hình dạng sau:

Một xương nhô tròn (viên nguyệt chẩm) làm người bảo vệ.

Một xương trên tròn dưới vuông (thùy lộ chẩm) tướng làm quan viên làng xã.

Một xương tròn dẹt bánh dầy (tôn ngọc chẩm) tướng làm thư ký.

Hai xương gấp khúc dựa vào nhau (bối nguyệt chẩm) làm viên công chức.

Tướng pháp Trung Hoa còn có thêm nhận định nhân cách qua xương hậu chẩm. Xin liệt kê thêm để tham khảo.

Xuât phúc chẩm (có một xương gồ nhọn): Tướng người cương trực, trung thành.

Hồi hoàn chẩm điềm: Cha con đều hiển vinh.

Tam quan chẩm (ba xương trồi cao liền nhau một hàng): tướng giàu có, đông anh em, sang trọng.

Liệt hoàn chẩm (xương nổi lên nối liền xương phía trên 2 tai thành bờ mai rùa): tướng thọ, sang, nhưng tính khí bất thường.

Kê chẩm (xương chẩm thẳng một vạch) tướng bướng bỉnh, thô bạo.

Hoành sơn nhất tự chẩm (xương nổi cao một gò dài) tướng có công danh.

Ngoài ra họ còn chia nhỏ tỉ mỉ như:

Tả trường chẩm, tả tán chẩm, hữu tán chẩm (xương chẩm nổi bên trái, bên phải ngắn và nổi bên trái thành vạch dài) để chỉ tướng sông lâu.

Tuần châm chẩm, thùy châm chẩm: chỉ tướng nghèo mà sang và thọ.

Thượng tự chẩm (xương hậu chẩm giông chữ thương Trung Quốc): chỉ tướng người có trí lớn nhưng không thành đạt nhiều.

Yên cổ chẩm, đinh tự chẩm (xương hậu chẩm có dáng chữ đinh Trung Quốc): chỉ thành bại trên quan trường, không ổn định.

Sơn tự chẩm (hậu chẩm giống chữ sơn Trung Quốc) tướng phú quý, thông minh thọ.

Diệp Ngọc Chẩm (một xương bẹt hình lá cây), tướng giầu có, hiển vinh.

Tượng Nha Chẩm (xương hậu chẩm trồi nhọn cong như ngà của con voi), huyền trân chẩm, tướng của người có quân quyền, võ quan.

Nhật dương chẩm (xương chẩm dài nhưng đứt làm hai đoạn): tướng rất giàu có và trường thọ.

Tướng pháp cho rằng xương sọ người cấu ghép từ trăm loại xương với nhau. Riêng xương hậu chẩm cũng không liền khôi mà nó chia cắt thành hàng chục kiểu xương như đã nêu. cấu tạo như vậy nhưng chúng nằm trong mảng chẩm. Tuy thế chúng vẫn khu biệt bằng hình dạng riêng. Mỗi hình dạng ấy cho ta tính cách riêng của mỗi con người và sự thành danh của họ. Mỗi người chỉ cần có một dạng xương hậu chẩm trên là quý rồi. Nó là phên dậu bảo vệ phía sau cho trán. Nó phải nổi bật lên mới hợp cách. Nếu bằng tẹt giống các phần khác của xương đầu làm không phân biệt được thì đó là tướng của người kém cỏi, yểu vong, tính tình bình lặng, danh phận tầm thường nhưng đôi khi vì một lý do nào đó thì tính tình của họ lại bột phát nóng nảy (loại colique), năng lực bình thường. Còn hậu chẩm lõm: người vụng về, năng lực kém, tính tình nhu yếu (loại melancolique).

5. Đầu có cốt

Tướng đầu gồm: Hình dạng đầu (đã nói trên), biệt tướng gồm: sống đầu (đầu có cốt) có tài sư phạm, còn gọi là gò sư phạm, sống này kéo dài xương trán cực quý.

DaquyVietnam,

Cách Xem Tướng Đầu Trong Tướng Pháp Trung Quốc

Tướng pháp của Viễn Thiên Cương

Tướng thuật gia Viễn Thiên Cương cho rằng tướng đầu (thủ mạo) có thể so sánh với các loài vật, qua đó thể hiện nhân cách. Họ cho rằng “muốn xem tướng người, trước hết phải xem tướng đầu. Đầu của con người làm chủ ngũ tạng, điều khiển thân thể…”. Từ đó sách thần tướng còn ghi “… Đầu có hàng trăm thứ xương, là nơi quần dương hội tụ (đầu tượng trưng cho Thiên – Dương quân; chân, mông thì tượng trưng cho Đất – Âm tụ). Vì vậy “đầu” mà không có cấu tạo khác thường khó được coi là quý tướng được…”.

Quan điểm kiểu đầu của Viên Thiên Cương.

Đầu cao vòm như vòm trời thì: Tuân tú, nghiêm nghị, quyền uy, thông tuệ.

Đầu nhỏ, nhọn, nghiêng vẹo, bẹp, lép, lồi lõm thì: Nhân cách bất chính, tướng gian, yểu.

Đầu đầy đặn cao mà không nhô, nhọn, ngắn thì là tướng tốt. Cuộc đười viên man (toại nguyện).

Đầu có da dày thì: Giầu, gặp may.

Đầu có da mỏng thì: Nghèo, khổ.

Da đầu đỏ thì: Hay gặp tai nạn con người hung ác.

Đầu cúi khi ngồi thì: Hèn kém

Đầu và thân phải cân bằng, tướng xấu kém là đầu to, thân bé, hay ngược lại đầu nhỏ người to.

Trường phái xem tướng đầu theo Ngũ hành

Một số tướng gia khác còn cho rằng nên chia hình dạng tướng đầu theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ.

Đầu thuộc Kim thì: Da đầu trắng, dáng khanh tướng cứng cỏi, hay thay đổi quan điểm, tính tình.

Đầu thuộc Mộc thì: Da dày thô, đầu to vuông thì có năng lực, uy quyền, giàu.

Đầu thuộc hành Thủy thì: Da thâm, không dầy, không mỏng hình dạng chữ nhật tròn cằm; tướng hoạt bát, tiết kiệm, thích nghi nhanh với hoàn cảnh, thích làm việc.

Đầu thuộc hành Hỏa: Cao, nhọn, da đầu hồng tướng nóng nảy, bản lĩnh.

Đầu thuộc hành Thổ: Tròn, da sạm, dày, tướng giầu, tháo vát.

Lại căn cứ vào tính chất của từng hành để áp định vào hình tướng, Sự liên hệ này là khoa học chứ không phải mê tín. Tên của Ngũ hành chỉ là những ký hiệu võ đoán để dễ hiểu. Nó giống a, D(an pha, bê ta) trong toán học mà thôi.

Khi nói đến thuộc Hỏa thì ta hiểu ngay về hình dạng là: cao, nhọn và về tính khí thì: Nóng nảy, hấp tấp, nóng vội, về sắc khí thì đỏ. về bản chất thì: nhiệt thành, cương nghị… Như vậy thì khi thấy hình dạng cao, nhọn, gầy, gân guốc, ta áp ngay vào nhân tính thuộc hành hỏa.

Cũng như vậy khi nói đến thuộc thuỷ nghĩa là hình dạng vừa phải, râu, tóc, lông đen mượt, sắc khí sám nhuận, tính khí thùy mị, nhã nhặn, bản chất thiện tâm. Mầu thâm, đen nhạt v.v… Và khi ta thấy hình dạng, sắc khí như vậy ta hiểu ngay người thuộc hành Thủy. Đã thuộc hành Thủy thì nhân tính hoạt bát dễ thích nghi, con người có nghị lực v.v…

Người có kiến thức uyên thâm nhiều lĩnh vực như về Âm Dương Ngũ Hành; tử vi mệnh số; sinh, tâm lý, y lý; hình thể học v.v… và cần có đức độ thì có thể thấu hiểu tướng thuật sâu xa được và mới dùng được đúng. Kiến thức các mặt hời hợt mà nghĩ đến dùng tướng thuật thì có thể làm sai lệch một môn khoa học đã có lịch sử mấy ngàn năm rồi. Mặt khác việc thấu hiểu và ứng dụng cần quan niệm là tôn trọng những thành quả đã có. Đồng thời luôn suy nghĩ chọn lọc bổ trự để một môn khoa học ngày càng phát triển hợp lý.

Trường phái xem tướng đầu theo thú vật

Đầu Rồng: Xương to khô cao vồng lên như đầu của con rồng. Đỉnh được các thùy chầu vào. Hậu chẩm như chuỗi hạt xếp song song nổi cao lên: Tướng quyền lớn, chức to (công hầu, khanh, tướng) thông minh tuyệt đỉnh, danh tiếng lẫy lừng.

Đầu Hổ: To, tròn, trán rộng thẳng đứng mày nhô, mắt có uy. Miệng rộng, tướng quan võ, chức trọng quyền cao, bổng lộc nhiều “… Hổ đầu cao khởi phúc lộc vô tỉ…”.

Đầu hổ hàm bạnh (chim én) làm đến tể tướng, nguyên soái, đại tướng.

Đầu Voi: Cao bè, nổi u ở hai gò từ tốn và Kim Môn (hai bên rìa trán). Tướng: Khỏe mạnh, sống thọ và phúc, lộc nhiều.

Đầu Tê Giác: To, cung quan lộc có u nhô nhọn hoặc trông như củ ấu hay nửa viên ngọc – Tướng: Giầu to, con nhiều.

Đầu Hươu: Dài cân đối với người, thanh tú – Tướng: Kiên nghị, có ý chí, cứng cỏi.

Đầu Giái Cá: Ngang rộng. Tướng: Sống lâu, tâm thiện, rộng rãi.

Đầu Rắn: Bằng (không có đỉnh tròn) – Tướng: Nghèo, hèn.

Đầu Chó: Trên to, dưới hẹp nhỏ, tròn – Tướng: Cả đời khổ đau.

Đầu Chồn: Nhọn hoắt – Tướng: Nghèo hèn, gặp nhiều nạn tai, tính ác.

DaquyVietnam,

Phong Thủy Loan Đầu Hình Thể

a/ Về Thế nhà, thế đất theo hướng:

– Bốn phía nhà nhô cao là tốt. Phúc lộc dồi dào, làm ăn phát đạt, con cái tài giỏi.

– Phía trước nhà có gò cao, phía sau có núi đồi, phía Đông có dòng nước, phía Tây có đường là đại cát. Con cháu đời đời làm quan, hưởng lộc may mắn.

– Phía Đông cao, Tây thấp, phía Bắc có núi nhiều là đại cát. Tiền của như núi, trên dưới vui vẻ, thuận hòa.

– Tây ngắn, Đông dài, chủ nhà may mắn, của cải dồi dào, con cháu thịnh vượng.

– Phía Nam có gò đất, phía Bắc có đồi, phía Tây có dòng nước chảy về phía Nam, địa thế thấp dần về phía Đông, kéo dài hơn 1 dặm là tốt.

– Hai bên Đông, Tây có dòng sông chảy qua là tốt. Gia chủ luôn gặp may, hậu thế đời đời hưởng phúc.

– Phía Tây Nam có hồ nước, Đông Bắc có đồi núi là tốt. Gia chủ giàu sang, con cháu hưởng lộc trời.

– Hướng Tây Nam có gò đất cao, là cát. Càng ở lâu, con cháu càng vinh hiển, đời đời thịnh vượng.

– Hướng chính Bắc cò gò mộ là cát. Ở chốn này, người quân tử làm quan hưởng lộc, bình dân thì gia đạo êm ấm.

– Phía Tây Bắc có gò đồi, tốt. Gia đình ngày càng thịnh vượng. Con cháu thành đạt làm rạng rỡ tổ tông.

– Phía Nam và phía Bắc có núi cao, phía Đông và phía Tây có bãi cát, ao hồ, chủ nhà phú quý, trường thọ.

– Phía Đông Bắc có gò đồi là cát. Của cải dồi dào, con cháu hưng thịnh.

– Phía Bắc nhà ở có gò đồi, phía Nam gần ao hồ, địa thế cao dần về phía Tây Bắc là tốt. Con cháu vinh danh rạng rỡ tổ tông.

– Phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc có đồi cao, phía Tây Nam có núi đồi, phía Nam thoai thoải là tốt. Dựng nhà nơi đây, lắm của nhiều con. Con cháu tài ba, vinh hiển.

– Phía Tây Bắc có núi dài hơn vạn dặm, hướng Đông Nam lại có núi cao trùng trùng điệp điệp, địa thế Tây Nam, Đông Bắc bằng phẳng thì giàu sang.

– Phía Bắc có núi, phía Đông có dòng nước trong xanh, hướng Tây có đường đi là tốt. Con cháu làm vinh hiển.

b/ Về thế sân vườn và ngoại cảnh xung quanh những điều kiêng kỵ:

Nếu nhà được xem như kho chứa tài lộc của một gia đình thì vườn chính là con đường dẫn tài lộc ấy đi vào đúng nơi đúng chỗ.

– Vườn nhỏ mà trồng cây quá lớn lấy bóng râm thì nhà dễ gặp vận suy.

– Trồng liễu dễ xào xáo tình cảm gia đình nên những ai chuộng sự bình yên thường tránh trồng.

– Trồng trúc mang may mắn, nhưng nên trồng trong bồn hay chậu cứng để rễ cây mọc tập trung bên trong, không phá đất.

– Giữa sân nên trồng các loại hoa nhỏ có nhiều màu vì chúng sẽ giúp người trong nhà sống thoải mái, dễ chịu.

– Không nên trồng những loại cây phát triển thành dáng kỳ quái vì chúng bị cho là tướng hung.

Trong vườn, những nơi có thảm cỏ nên thiết kế thêm đá (tảng, cuội). Chúng đại diện cho sức mạnh, sẽ hài hòa với nét mềm mại của thảm cỏ để gia đạo và gia phong của mái ấm được hài hòa, vừa cứng rắn lại vừa mềm mỏng.

Nước là năng lượng cho vườn nên tốt nhất là vừa có khoảng nước lặng để thu khí trời đất, vừa có khoảng nước lưu chuyển để mang tài lộc vào nhà. Cá thả trong hồ nên có màu vàng và màu trắng vì chúng tượng trưng cho vàng, bạc.

Chuông gió: là vật bổ sung cho tiếng nước róc rách khiến “phong” và “thủy” thêm hòa quyện. Bạn nên sắm loại chuông gió chất liệu tốt, chịu đựng được mọi thời tiết. Không nên treo một chiếc chuông gió quá lớn ở phía Đông khu vườn.

Đèn vườn: Thay thế ánh sáng mặt trời vào ban đêm, đèn mang vào khu vườn yếu tố “hỏa”, tạo cảm giác hưng phấn tràn đầy năng lượng cho vườn. Cần bố trí sao cho tất cả các vị trí trong vườn đều đủ ánh sáng.

Tượng điêu khắc: Những bức tượng điêu khắc to, nhỏ như thiên thần, trẻ em, chim muông, chó, ngựa… sẽ làm cho khu vườn của bạn tràn đầy sinh khí tươi vui.

Ngoài ra theo phong thủy, ngoài việc tuân theo các nguyên tắc trong bài trí nhà ở thế nhà, thế đất hay sân vườn thì điều trước tiên bạn cần chú ý chính là cảnh quan xung quanh nhà.

Điều này có tầm quan trọng đặc biệt vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và tài vận của bạn. Theo phong thủy, ngoài việc tuân theo các nguyên tắc trong bài trí nhà ở thì điều trước tiên bạn cần chú ý chính là cảnh quan xung quanh nhà.

1. Nếu xung quanh nhà là rãnh nước – nơi chứa nhiều chất uế tạp sẽ ảnh hưởng rất xấu tới gia chủ. Nếu cư trú lâu ngày, người sống trong nhà có thể sẽ mang mệnh tật, tiền tài bị hao tổn.

2. Nếu cư trú lâu ngày trong ngôi nhà mà hai bên nhà là đường giao thông thì gia chủ sẽ dễ mắc bệnh thần kinh, thậm chí có thể gặp tai họa bất ngờ.

3. Nếu nhà nằm ở giữa hai ngôi nhà cao tầng khác thì gia chủ dễ mắc bệnh tật, tài vận kém.

4. Giữa hai nhà cao tầng có ngõ nhỏ ngăn cách gọi là thiên trảm sát (lưỡi dao từ trên trời rơi xuống). Nếu ngõ này chiếu thẳng vào nhà bạn thì sẽ gây ảnh hưởng rất xấu, dễ bị phá sản.

5. Hai nhà đối diện mở cửa đối xứng nhau, phong thủy gọi là đấu môn sát. Nhà ở vào trường hợp này sẽ có một nhà bị suy kiệt, nhà nào có cửa to thì đỡ bị hại hơn.

6. Nhà xây cao vọt hơn các nhà khác, phong thủy gọi là lộ phong sát. Gia chủ dễ bị cô đơn, dễ mắc bệnh tật, bị mọi người xa lánh.

7. Phía trước nhà có một ngôi nhà hoang phế thì của cải khó tích lũy, gia đình bất hòa, sức khỏe suy yếu.

8. Trước nhà có tảng đá hay vật nhọn chiếu vào thì gia chủ dễ bị thương tổn. Nếu ở hướng Nam của nhà có vật nhọn chiếu vào thì nhà dễ bị hỏa hoạn.

9. Trước cửa nhà là một hố nước hoặc một ao nhỏ là rất hung (xấu), gia đình không hòa thuận, gặp nhiều chuyện thị phi.

10. Nhà ở gần bãi rác (càng lớn càng hung) thì dễ xảy ra tiêu cực, sức khỏe kém, con cái ngỗ nghịch.

11. Trước cửa nhà hoặc trong sân có hai cây bắt chéo nhau sẽ khiến gia đình không hòa thuận, vợ chồng dễ có chuyện tình cảm bất chính.

12. Nhà ở đối diện với khu vui chơi giải trí thì ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cách của trẻ.

13. Nhà ở hoặc cửa hàng có đoạn đường cong trước mặt thì gia chủ rất dễ gặp nguy hiểm như tai nạn, phá sản; con cái ngỗ ngược…

14. Trước cửa có cây to sẽ ngăn cản dương khí vào nhà, âm khí sinh sôi. Người sống trong nhà này dễ sinh bệnh tật, dễ bị sét đánh vào nhà.

15. Nhà ở hoặc cửa hàng không nên ở chính giữa ngã ba đường. Nếu là phố rộng thì gọi là lộ xung, nếu là phố hẹp thì gọi là lộ sát. Hai trường hợp này gọi là lộ không vong, đều khiến gia chủ dễ lâm vào cảnh bị phá sản hoặc bị kiện tụng.

Hướng Dẫn Đo Toạ Độ Và Hình Ảnh Loan Đầu Trong Phong Thuỷ

Bước 1: Hướng dẫn vẽ mặt bằng nhà / Bước 2: đo toạ độ nhà (dùng la bàn trên điện thoại) / 3: Hình ảnh bên ngoài nhà / Bước 4: hình ảnh bàn làm việc

1. Hướng dẫn vẽ mặt bằng nhà

Với nhà căn hộ khi lấy tọa độ: từ tầng trệt đến tầng 5 ta dùng tọa độ của cả tòa nhà, từ tầng 6 trở lên ta dùng cửa chính của căn hộ. Tức từ tầng 5 trở xuống, để xác định tọa độ, ta cần xác định cửa chính của cả tòa nhà làm hướng (cho quẻ HKPT), sau đó xác định vị trí căn hộ trong tòa nhà hoặc tọa độ hướng ban công.

3. Cung cấp hình ảnh bên ngoài nhà (chụp góc rộng)

Tìm cung Kích sao Hàm trì, dịch mã…

* Tải app La bàn trên ios: https://apps.apple.com/vn/app/la-ban-phong-thuy-laban/id965688990?l=vi

Ví dụ Mùi tìm “hướng Tỵ” là dịch mã. Hoặc tuổi Mùi tìm “hướng TÝ” là Hàm trì, khi kích sao, những người ở cùng nhà cùng tuổi sẽ có thể ứng nghiệm. * Tý: 0 độ * Ngọ: 180 độ * Mão: 90 độ * Dậu: 270 độ * Dần: 60 độ * Thân: 240 độ * Tỵ 150 độ * Hợi: 330 độ

1. Hai cửa chính nhà không được đối xung với nhau (1 nhà Thịnh 1 nhà suy) 2. Đầu giường không được gần cửa vào, cửa nhà vệ sinh, bếp, cửa sổ (ảnh hưởng sức khoẻ) 3. Đầu giường không nên tựa tường “nhà vệ sinh”, tầng dưới không nên ngay bếp nấu. 4. Bếp và bồn rửa chén nên có 1 khoảng cách nhất định (ngăn Thuỷ Hoả xung) 5. Cửa không nên thấy cửa (khí quá mạnh) 6. Tránh nhà hướng Tây hoặc ban công căn hộ hướng Tây (nắng hại, oi bức) 7. Không nên gắn gương trong phòng ngủ và bếp (người thứ 3 xuất hiện) 8. Bàn thờ không được ở tầng trên hoặc dưới nhà vệ sinh, không nên đối xung với cửa nhà, cửa vệ sinh. 9. Họ tên hàng xóm bên cạnh ảnh huởng g đến nhà bạn 10. Từ cửa chính hoặc ban công nhìn ra nên thoáng (kỵ vật nhọn xung, cao lớn bị áp bức…) 11. Không nên sống trong nhà ngõ cụt (phá tài, không lối thoát) 12. Không nên bày trí vật nhọn trong nhà (nhọn là hung) 13. Nhà nên là vuông vắng không được khuyết góc (nơi khuyết ảnh hưởng đến thành viên đó). 14. Căn hộ tránh đối diện thang máy, gần nhà rác, gần phòng kỹ thuật (giá luôn rẻ hơn vì phạm: sát, hôi, thanh sát)

Phong thuỷ Khải Toàn

* Có duyên lĩnh hội Thiền định – Phong thuỷ – Tâm linh, dùng những kiến thức này giúp người trong tâm thế cẩn trọng, giúp ai và không nhận ai. Truyền tải thông điệp Thiền đến mọi người để có được sự an nhiên trong đời sống, sống tích cực, hướng thiện, giúp đỡ nhân sinh.

* Tôi không nhiều hứng thú khi dự đoán tương lai của ai đó, nhưng rất thích nói về “cải vận” luận về làm thế nào thay đổi cuộc sống tốt hơn. Các luận đoán trong kết quả gửi đến gia chủ chỉ nói hạn chế về tương lai, đa phần hướng dẫn cách cho tâm tính tích cực, chỉ ra Mệnh khuyết để cải vận.

Bạn đang xem bài viết Tướng Đầu: Hình Dạng Đầu Trong Tướng Pháp trên website Ica-ac.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!