【#1】Khi Xem Bói Bài Bằng Bài Tarot Thường Nói Lên Điều Gì?

22 lá bài thuộc arcana chính là trung tâm của bộ bài. Mỗi lá bài trong số đó tượng trưng cho một số khía cạnh của vũ trụ theo kinh nghiệm của loài người. Chúng tiêu biểu cho những nguyên mẫu- là những điển hình chắc chắn, chính xác về sự ảnh hưởng vốn có của bản chất con người.

Bói bài Tarot nói lên điều gì

Tarot- Khái quát lịch sử

Một bộ bài tarot chuẩn gồm 78 lá được chia thành 2 dạng, arcana chính và arcana phụ. Từ arcana là số nhiều của arcanum, có nghĩa là “bí mật sâu thẳm”. Trở về với những nhà giả kim thời trung cổ, arcanum được xem là bí mật của tự nhiên. Cho nên bài Tarot là một tập hợp của “những bí ẩn” dùng làm cơ sở để giải thích thế giới.

22 lá bài thuộc arcana chính là trung tâm của bộ bài. Mỗi lá bài trong số đó tượng trưng cho một số khía cạnh của vũ trụ theo kinh nghiệm của loài người. Chúng tiêu biểu cho những nguyên mẫu- là những điển hình chắc chắn, chính xác về sự ảnh hưởng vốn có của bản chất con người.

Mỗi lá bài trong arcana chính đều có tên và số. Một số cái tên truyền đạt chính xác ý nghĩa của lá bài, như Strength (sức mạnh), Justice (sự công bằng), Temperance (thận trọng). Một số khác thì riêng biệt, chúng đại diện cho những tiếp xúc đặc biệt về cuộc sống, như Magician (pháp sư), Hermit (thuật sĩ). Cũng có những lá bài mang những tên gọi thuộc về thiên văn như Sun (mặt trời), Moon (mặt trời) và Star(sao). Chúng tượng trưng cho sự liên kết của những sức mạnh huyền bí với thân xác con người.

Những lá bài arcana chính rất đặc biệt vì chúng có thể đưa ra những nhận xét sâu sắc và phức tạp. Những hình ảnh trên cách bói Rider-Waite rất gợi hình bởi chúng kết hợp các ký hiệu đặc trưng với những hình dáng và vị trí có thể xác định được. Mặc dù những cảnh báo rất mơ hồ nhưng có hiệu quả.

Bài arcana chính đòi hỏi người bói rất khó khăn trong việc giải nghĩa. Khi một lá arcanachính xuất hiện, bạn biết rằng sự xuất hiện của việc đó không thuộc thế tục hay chỉ là tạm thời. Chúng tương trung cho những mối quan hệ chủ đạo của bạn __là động cơ chính thúc đẩy và những cảm nhận của chính bản thân bạn.

Bài arcana chính đôi khi được xem là một đơn vị hoàn toàn độc lập. Những sự kết hợp khác nhau sẽ chỉ ra những kiễu mẫu cuộc sống tươi sáng hơn. Thần số, chiêm tinh và những khoa học huyền bí khác thường đóng vai trò trong những sự phối hợp này.

Rất nhiều nhà giải thích chỉ ra rằng bài arcana chính cho thấy những phạm vi khác nhau trong quá trình phát triển về mặt tâm linh riêng biệt của mỗi người (được gọi là Fool’s journey). Trong hệ thống này, mỗi lá bài thay thế cho những phẩm chất và kinh nghiệm mà chúng ta phải kết hợp trước khi chúng ta có thế nhận biết rõ ràng về bản thân.

Nguồn gốc của Tarot vẫn là một bí ẩn. Theo như ghi chép thì có thể nó xuất xứ từ Ai cập cổ tuy nhiên cho đến giờ vẫn chưa tìm được những bản vẽ ghi chép về các hình b tarot đầu tiên

Chỉ biết các lá bài đã xuất hiện lần đầu tiên ở Italia vào thế kỉ 15 như một trò chơi rất phổ biến.

Các quí tộc đã đặt làm những bộ bài rất đẹp và một số trong đó còn đến ngày nay.Có những bộ được vẽ trên gỗ quế cực thơm.

Nguồn gốc của bộ bài Tarot có hơi mơ hồ. Những thuyết phổ biến nhất là từ Ai Cập – thần Thoth và những kết nối và những điều giảng dạy thần bí cổ xưa. Thần thoại phổ biến nhất là nó được mang tới từ .

– Bộ bài Tarot như ta biết ngày nay là một tập hợp các hình ảnh & biểu tượng từ nhiều nền văn hóa khác nhau, từ Hi Lạp & La Mã cổ đến người Na Uy tiền sử, từ những tôn giáo cổ của Ấn Độ đến những triều đình trung cổ tại Ý & Pháp.

– Tham khảo rõ ràng đầu tiên ta có những lá bài Tarot là từ bài thuyết pháp được thu thập cùng nhiều thứ khác vào khoảng năm 1500 ở Ý và được tìm thấy ở Steele Manuscipt. Bài thuyết pháp được cho là có từ năm 1450 tới 1470 và là 1 lời chỉ trích lại những trò chơi của số phận. Nó cho ta những mô tả chi tiết về các lá bài chủ, chưa được đánh số nhưng đã được đặt tên.

– Những lá bài đầu tiên vẫn còn tồn tại có từ năm 1392 và trong cố chúng chỉ còn lại 17 lá. Nó được tin là đã được vẽ cho vua Charles đệ lục của Pháp bởi Jacquemin Grigonneur, nhưng có thể chúng ít cổ hơn và là những lá bài Tarocchi của Venice có từ giữa Thế Kỉ XV. Cỗ bài xưa nhất có đủ được vẽ vào năm 1422 bởi một nghệ sỹ người Ý là Bonifacio Bembo. Nó được biết tới như cỗ bài Visconti theo họ của người mà nó được ủy quyền, nhà Duke ở Milan

Bộ bài Visconti-Sforza, được làm ra năm 1450 hoặc sau đó không lâu, là một trong những bộ bài cổ nhất và đầy đủ nhất được tìm thấy cho đến nay.

Sau đó vào thế kỉ 18 và 19, những lá bài được phát hiện bởi một số nhà huyền học uy tín. Những người này bị lôi cuốn bởi Tarot và nhận ra rằng những hình vẽ trên các lá bài có nhiều sức mạnh hơn là một trò chơi đơn giản. Họ khám phá ra (hoặc tạo ra!) lịch sử “thật” của Tarot bằng cách liên hệ những lá bài với những bí ẩn của người Ai Cập, những nguyên lý Giả kim thuật, phép thuật của người Do Thái (Kabbalah), và những hệ thống thần bí khác.

Những cố gắng theo đuổi ấy được tiếp tục cho đến đầu thế kỉ 20 khi mà Tarot đã được thống nhất thành hành động của một vài tổ chức bí mật, bao gồm cả Order of the Golden Dawn.

Do có 1 thời gian Tarot bị cấm sử dụng vì người ta dùng nó để chơi và đặt cược rất lớn thậm chí cả gia sản..nên Tarot còn bị coi là ván bài vận mệnh.

Mặc dù nguồn gốc của Tarot vẫn đang giấu kín trong một truyền thống bí ẩn, niềm yêu thích những lá bài đã bùng nổ trong vài thập kỉ gần đây và mở ra nhiều viễn cảnh khác nhau. Những cỗ bài mới đã được tạo ra thể hiện những sự quan tâm ấy. Đó là những cỗ bài của người Mĩ bản địa, của người Nhật Bản, những cỗ bài về thảo mộc và rồng, vân vân.

Universal Waste:

Bạn thích phong cách của thế kỷ 15? 1 phong cách cổ. Vậy thì bộ bài này rất thích hợp cho bạn. Hãy sở hữu nó

Llewellyn Tarot –

Gilded Tarot

Bộ bài này thì ko còn gì để nói. Nó là hot nhất và được nhiều người mua nhất vì đơn giản là nó “ĐẸP”

Cùng Danh Mục:

【#2】Xem Bói Bài Bằng Bài Tarot Như Thế Nào?

Một số người còn dùng pha lê để làm sạch bộ bài. Viên pha lê được đặt ở phía trên lá bài giữa những lần đọc để hấp thụ bất cứ năng lượng nào còn lại sau lần bói trước.

Bói Bài Tarot là gì

Làm Sạch Bộ Bài Tarot

Khi bạn bói Tarot, bạn sẽ thấy đôi khi sau nhiều lần bói dường như bộ bài trở nên kém chính xác hơn. Trong khi bói Tarot, bộ bài nhận được năng lượng của bạn cũng như của người cần bói và lưu lại dấu ấn của lần bói gần nhất. Để có được kết quả tốt nhất, bạn nên giữ bộ bài ở trạng thái tương đối “sạch” trước lần tiếp theo bằng cách tráo lại bộ bài sau khi bói rồi mới cất vào hộp hay gói vào khăn. Điều này sẽ giúp xóa đi năng lượng của lần vừa bói. Trước khi bói, bạn cũng có thể tráo lại để làm sạch năng lượng.

Thỉnh thoảng hoặc định kỳ bạn cũng có thể làm sạch bộ bài bằng những cách kỹ lưỡng hơn. Theo cách truyền thống, ít rườm rà nhất, các lá bài được sắp xếp lại theo thứ tự từ bộ Ẩn chính tới bộ Ẩn phụ, từ những lá có số thấp tới những lá có số cao. Sau khi sắp xếp lại, bạn tráo bài kỹ như thể đó là một bộ bài mới.

Một số người còn dùng pha lê để làm sạch bộ bài. Viên pha lê được đặt ở phía trên lá bài giữa những lần đọc để hấp thụ bất cứ năng lượng nào còn lại sau lần bói trước. Chính viên pha lê lại cần được làm sạch định kỳ bằng cách rửa nó qua nước biển hoặc nước muối ấm, rồi phơi khô nơi có ánh mặt trời.

Khói cũng có thể làm sạch bộ bài. Nếu bạn có khả năng, điều kiện hay thời gian rảnh rỗi, bạn cũng có thể đốt thảo mộc khô và đưa bộ bài hoặc viên pha lê qua khói bốc lên vài lần.

Cách dễ nhất, dĩ nhiên, là đổi sang bộ bài mới. Nhưng tôi không khuyên bạn điều này, bởi như thế bạn cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ của mình với bộ bài Tarot cũ và lại phải xây dựng lại từ đầu với bộ bài mới.

Cùng Danh Mục:

【#3】Chiêm Tinh Học Và Thuật Bói Toán Tại Việt Nam Cổ Truyền

(University of Tsinghua, Beijing)

CHIÊM TINH HỌC VÀ THUẬT BÓI TOÁN TẠI VIỆT NAM CỔ TRUYỀN Lời Người Dịch:

Ngô Bắc dịch

*** Dẫn Nhập: Bối Cảnh Lịch Sử

Điều lạ lùng là tác giả không hề nói gì về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, người được xem là nhà tiên tri nổi tiếng nhất của Việt Nam, kẻ mà người dân Việt Nam nào cùng nghe biết đến qua các lời được cho là sấm truyền của cụ trong hơn 500 năm qua, tuy chẳng hiểu biết một cách xác thực về nhân vật gần như huyền thoại này./-

Miền bắc của Việt Nam ngày nay đã từng chính thức trở thành một tỉnh của Đế Quốc Nhà Hán Trung Hoa vào cuối thế kỷ thứ 2 Trước Công Nguyên , quốc gia Việt Nam mới khai sinh đã thực hiện một hệ thống thư lại tương tự như hệ thống của triều đại nhà Tống Trung Hoa (960-1279), kể cả các định chế giáo dục và hệ thống khảo thí. Ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa vẫn còn mạnh trong suốt các triều đại Việt Nam liên tiếp nhau, và còn trở nên mạnh hơn trong và sau sự chiếm đóng ngắn ngủi của Trung Hoa tại Việt Nam trong các năm 1407-1427. Chính sách thực dân của Pháp đã khởi sự với chiến dịch Nam Kỳ (Cochinchina) trong các năm 1858-1862 đánh dấu bước khởi đầu của một sự suy sụp mau chóng học thuật Trung-Việt cổ truyền và phát súng ân huệ quyết định đã được bắn ra với sự xóa bỏ hệ thống khảo thí quốc gia trong năm 1919.

Chiêm Tinh Học Việt Nam: Các Nguồn Tài Liệu Chính Yếu Và Văn Chương Thứ Yếu

Trong thời kỳ mà Việt Nam là một tỉnh chính thức của đế quốc Trung Hoa (giờ đây thường được nói đến bởi các tác giả Việt Nam như thời “đô hộ của giặc Tàu”), chính quyền địa phương đã sử dụng tiếng Hoa cổ diển cho các tài liệu chính thức, trong giáo dục, và các cuộc khảo thí quốc gia. Các tài liệu sớm nhất (các bi ký trên các bia đá của thiên niên kỷ đầu tiên SCN) không chứa đựng, hay rất ít, các chữ “địa phương” được sắp xếp trên căn bản của Hán tự. Sau khi có sự tách biệt Việt Nam ra khỏi Trung Hoa trong thế kỷ thứ 10, một số lượng gia tăng các chữ địa phương xuất hiện trong các tài liệu văn bản. Chữ viết địa phương thiết kế trên căn bản Hán tự và dùng để ký tự ngôn ngữ Việt Nam được gọi là chữ Nôm . 2 Vài lần các nhà cai trị Việt Nam đã cố gắng để dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ cho việc soạn thảo văn kiện chính thức và học thuật thay cho tiếng Hoa (Hán: 漢) cổ điển, nhưng Hoa ngữ cổ điển vẫn còn được dùng thường xuyên hơn. Ngay này từ ngữ “các sách Hán Nôm 漢 ” được dùng để chỉ toàn thể sưu tập các sách Việt Nam viết bằng Hoa ngữ cổ điển hay bằng tiếng Việt (dùng chữ Nôm), hay bằng cả hai ngôn ngữ hỗn hợp).

Các Cơ Sở Chiêm Tinh Và Thiên Văn Của Việt Nam: Một Tổng Quan

Cả hai thư tịch Trần và Gros (1993) và Liu và các tác giả khác (2002) đều không liệt kê các sách được bảo tồn trong vài sưu tập lớn chứa đựng các văn bản về chiêm tinh học. 12 Cũng có lý do để tin tưởng rằng một số các sách Hán-Nôm về chiêm tinh học từ thư viện Hoàng Triều tại Huế vẫn còn tồn tại; không may, chúng được bảo tồn trong các sưu tập tư nhân và do đó vẫn chưa được cung ứng cho sự nghiên cứu có hệ thống. Tổng quan về các tài liệu chính yếu trong bài viết này chính vì thế nhất thiết vẫn chưa đầy đủ.

Theo quyển 越 史 略 (Sơ Lược Lịch Sử Việt Sử Lược trong một bản sao lục hồi thế kỷ thứ 17 tập Hồng Đức Bản Đồ 洪 德 版 圖 (Các Bản Đồ Thiên Giám 司 天 監 Si tian jian, ty phụ trách Quan Sát Các Hiện Tượng Trên Trời). 19

Hình 1: Bản đồ Hà Nội từ tập Hồng Đức Bản Đồ

(hướng Tây ở trên cùng) cho thấy các địa điểm của Ti Thiên Giám 司 天 監 (A),

Điều vẫn chưa rõ rằng liệu ” Ti Thiên Giám ” nguyên thủy hồi đầu thế kỷ thứ 11 có phải đã được xây dựng tại địa điểm được thể hiện trên bản đồ hay không. Rất nhiều phần nó đã bị đóng cửa trong thời gian chiếm đóng của Trung Hoa (1407-1427), bởi nếu không, nó sẽ thách đố quyền hạn chuyên độc của các nhà chiêm tinh chính thức của Trung Hoa trong việc thực hiện và giải thích các sự nhận xét về thiên văn học. Người ta có thể ức đoán rằng định chế này đã được mở cửa lại không lâu sau sự triệt thoái của quân đội Trung Hoa, và đã duy trì hoạt động trong suốt thế kỷ thứ 17, khi một bản sao lục trình bày nơi Hình 1 được in ra.

Các sự trình bày về các hoạt động của các nhà thiên văn học và chiêm tinh học chuyên nghiệp được sử dụng bởi các nhà cầm quyền Việt Nam có thể được tìm thấy trong các hồi ký của các Tu Sĩ Dòng Tên người Ý Đại Lợi, Christophoro Borri (1583-1632) và Giovanni Filippo de Marini (1608-1682), các kẻ đã lần lượt đến thăm Đàng Trong: Cochinchina (Trung Kỳ Việt Nam) và Đàng Ngoài: Tonkin (Bắc Kỳ Việt Nam). Sự mô tả của Borri cho thấy rằng không chỉ Chúa Đàng Trong (Cochinchina), mà cả các ông hoàng, đều có các nhà chiêm tinh riêng của mình với công việc gồm cả sự tính toán các vụ nhật thực; de Marini mô tả một nghi thức đặc biệt được giả định sẽ được thực hiện bởi nhà vua trong ngày có nhật thực. 32 Các sự trình bày này khiến ta nghĩ rằng vào khoảng thế kỷ thứ 17, các nhà thiên văn học Việt Nam thụ hưởng một quy chế quan chức khá cao, rằng họ đã sử dụng các phương pháp của Trung Hoa về sự tiên đoán các vụ nhật thực, và rằng đôi khi họ không thể điều chỉnh một cách chính xác các phương pháp này với các vị trí (có nghĩa miền bắc và miền trung Việt Nam) nơi mà các vụ nhật thực được giả định sẽ được quan sát.

Các Sự Quan Sát Thiên Văn Được Thực Hiện Tại Việt Nam

Một định chế chính thức chịu trách nhiệm về các công việc thiên văn và làm sách lịch tiếp tục hiện hữu tại Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 20. Một sự trình bày (có niên kỷ năm 1930) về văn phòng thiên văn/chiêm tinh Khâm Thiên Giám 欽 天 監, cơ quan kế nhiệm Ti Thiên Giám 司 天 監, 33 mô tả cơ cấu và nhân viên văn phòng thiên văn/chiêm tinh tọa lạc tại Huế, kinh đô của triều Nguyễn (1802-1945), và thuật lại một cách ngắn gọn lịch sử của nó, bắt đầu từ thời Hoàng Đế Minh Mạng (trị vì từ 1820-1841). 34

Theo các sự tường thuật quy ước, một số lượng lớn lao các sách trong các thư viện chính quyền Việt Nam đã bị mất vì cháy hay tịch thu bởi quân xâm nhập Trung Hoa hồi cuối thế kỷ thứ 14 – đầu thế kỷ thứ 15. Nếu, theo các truyền thuyết, vụ hỏa hoạn xảy ra trong cuộc lục soát kinh đô bởi người Chàm hồi năm 1371 đã hủy diệt bừa bãi một số không rõ các thư viện, quân xâm lăng Trung Hoa đã tịch thu theo lời cáo giác một số lượng lớn lao các quyển sách và chuyển chúng về Trung Hoa, đã nhắm, với nhiều xác xuất nhất, một cách đặc biệt vào các sách vở bị nhìn như khẳng định một cách biểu trưng sự độc lập của quốc gia Việt Nam, tức, trước tiên, các niên sử địa phương, các sách lịch, các văn bản thiên văn học và chiêm tinh học. 43

Ba truyền thống ảnh hưởng nhất của chiêm tinh học Trung Hoa, được trình bày trong học trình của Trường Toán Học thời nhà Tống như “ba lược đồ .

5. Như D. Marr đã viết về nó, “Vào khoảng 1930 ý tưởng rằng sự phát triển và phổ biến chữ Quốc Ngữ cấu thành các thành tố thiết yếu của cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do đã là một phần của mọi đề cương Việt Sử Lược Việt Sử Lược , có nghĩa “Trước Thềm Rồng xây Chính Dương Lâu正 陽 樓 là nơi để điều khiển đồng hồ bằng nước (clepsydra); cũng xem một bản dịch trong Polyakov không phải là một sự nhầm lẫn của kẻ sao chép, nó có thể chỉ các que đếm (hay thẻ bài) được dùng trong các sự tính toán thiên văn. Các que đếm này cũng được sử dụng bởi các nhà chiêm tinh Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 17 hay còn sau hơn thế; xem Volkov 2009.

16. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

17. Các niên sử không đề cập đến vụ thiên thực hình vành khuyên ngày 4 Tháng Tám 1217, được trông thấy thấy Bắc Việt Nam, hay vụ thiên thực ngày 23 Tháng Năm 1221, được trông thấy tại Trung Hoa và Bắc Việt Nam. và 新 .

35. Ho 1964: 138, các được nói đến trong quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã cố ý được sắp đặt cho tương ứng với lịch sử chính trị của Việt Nam, bởi vì tất cả các vụ thiên thực ghi nhận được, ngoại trừ các vụ thiên thực của năm 479 và 1422, đều nằm trong các thời kỳ độc lập chính thức của Việt Nam ra khỏi Trung Hoa: thời kỳ từ 205 đến 122 TCN tương ứng với triều đại nhà Triệu 趙 Việt Nam (207-111TCN), vụ thiên thực năm 41 SCN xảy ra trong thời khoảng có sự nổi dậy của chị em Bà Trưng 徵 (40-43 SCN), và vụ thiên thực năm 547 nằm trong thời kỳ trị vì của nhà Tiền Lý Việt Nam (544-602). Vụ thiên thực vào ngày 8 Tháng Tư năm 479 là một vụ thiên thực hình vành khuyên, được nhìn thấy tại Ấn Độ và Trung Hoa, có thể khó nhìn thấy tại Việt Nam; ngược lại, vụ toàn thực ngày 20 Tháng Chín năm 461, được nhìn thấy hoàn toàn tại Bắc Việt Nam, lại không được liệt kê. Vụ thiên thực ngày 23 Tháng Một năm 1422 cũng không được nhìn thấy tại Việt Nam.

37. SL 1936: 30; Polyakov 1980: 149.

38. Ho 1964: 139, số 29.

39. SL 1936: 61; Polyakov 1980: 206.

40. Hai vụ thiên thực này là: (1) một vụ vào ngày đầu tiên của Tháng Mười Một năm 1105 (thiên thực một phần), xem SL 1936: 42; và Polyakov 1980: 173, và (2) vụ xảy ra ngày đầu tiên của tháng thứ nhì năm 1188, xem SL 1936: 57, và Polyakov 1980: 198. Sự ghi chép vụ trước có lẽ tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 16 Tháng Mười Hai năm 1107, và vụ kể sau tương ứng với vụ thiên thực vào ngày 17 Tháng Hai năm 1189; cả hai vụ thiên thực đều được nhìn thấy tại Việt Nam.

41. Vụ thiên thực vào ngày đầu tiên của tháng thứ mười năm 1093; xem SL 1936: 41; Polyakov 1980: 170. Từ 1081 đến 1100 đã chỉ có hai vụ thiên thực có thể được nhìn thấy tại Hà Nội: một vụ vào ngày 19 Tháng Ba năm 1094, và vụ kia vào ngày 14 Tháng Mười năm 1083. Không có vụ thiên thực nào được nhìn thấy tại Trung Hoa trong thời khoảng này.

42. Xem Nam Ông Mộng Lục (Ghi chép về các giấc mơ của một Ông Già từ Phương Nam) 南 翁 夢 錄 Nan weng meng lu, của Hồ Nguyên Trừng 胡 元 澄 (cũng được biết là Lê Trừng 黎 澄, 1374?-1446?), đoạn trích dẫn liên hệ như sau:

(Người này đã biên soạn quyển Bách Thế Thông Kỷ Thư 百 世 通 紀 書, khởi đầu với cấu hình của chùm sao nguyên thủy của vua Nghiêu đã tính toán (?) các sự giao hội giữa mặt trăng và mặt trời, và các vụ thiên thực, các độ đo rất phù hợp với thời thượng cổ.); cũng xem Knorozova 2009: 156-157.

43. Trần 1938: 43, n. 3; Cadière và Pelliot 1904: 619, n. 3.

45. Ho 2003: 36.

46. Ho 2003: 36-40:171, số 79, 568, số 23.

47. Thành phần này của phương thức bói toán rõ ràng đã bị sửa đổi khi được truyền bá tại Việt Nam.

48. Ho 2003: 66-68.

51. Ho 2003: 74-82.

52. Ho 2003: 83-84.

53. Kalinowski 1983.

54. Ho 2003: 113-119.

55. Ho 2003: 137.

58. Trần 1938: 106-107.

60. Muốn có các dữ liệu tiểu sử của Xu Xun (Hứa Tốn) như được tìm thấy Daozang (Đạo Tang) và sự sùng bái ông ta, xem Boltz 1987: 70-78.

. BNV R. 293.

3. Chiêm Bốc Tạp Nghiệm 占 卜 雜 驗 ( Zhan bu za yan) Các cách thức bói toán linh tinh). TG 440; L 2491.

4. Chiêm Luận Sự Niên Nguyệt Nhật Thì Tích 占 論 事 年 月 日 辰 跡 ( Zhan lun shi nian yue ri chen ji) ((Bói Toán dựa trên năm, tháng, ngày, và chùm sao Môn 遁 甲奇 門 (Dun jia qi men) ( Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2078; L 2508.

19. Lục Nhâm Đại Độn 六 壬 大 遁 (Liu ren da dun) { Lục Nhâm và của Cuộc Đại Lẩn Tránh}. TG 2080; L 2478.

21. Lục Nhâm Kinh Vĩ Lược 六 壬 經 緯 略 (Liu ren jing wei lue) (Tóm lược Kinh Sách và Kinh Ngụy Tác về Lục Nhâm. TG 2082; L 2479.

22. Lục Nhâm Quốc Ngữ 六 壬 國 語 (Liu ren guo yu) (]. TG 2083; L 2480.

23. Lục Nhâm Tiện Lãm 六 壬 便 覽 (Liu ren bian lan) (Tóm lược dành cho độc giả về Lục Nhâm). TG 2084; L 2481.

24. Mã Tiền Bốc Pháp 馬 前 卜 法 (Ma qian bu fa) (Các phương pháp bói toán rương bằng ngọc). Của Hứa Chân Quân 許 真 君 (Xu Xun: 許 遜 Hứa Tốn). TG 4744; L 2511.

26. Ngọc Hạp Toản Yếu 玉 匣 纂 要 (Yu xia zuan yao) (Cốt yếu của sự biên soạn từ Rương Bằng Ngọc). TG 4745; L 2483.

27. Ngọc Hạp Toản Yếu Thông Dụng 玉 匣 纂 要 通 用(Yu xia zuan yao tong yong) (Sự sử dụng thông thường các điều cốt yếu của sưu tập từ Rương Bằng Ngọc). In năm 1926. BNV R.2227.

28. Ngọc Trướng Huyền Cơ 玉 帳 玄 機 (Yu zhang xuan ji) ( Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2354; L 2488.

30. Ngọc Trướng Huyền Cơ Bí Pháp 玉 帳 玄 機 泌 法 (Yu zhang xuan ji bi fa) (Các phương pháp bí mật của Bộ Máy Huyền Bí và Trướng Treo Ngọc). TG 2356; L 2490.

31. Quỷ Cốc Đại Định Hoàng Tuyền Số 鬼 谷 大 定 黃 泉 數 (Gui gu da ding huang quan shu) ( Suối Vàng, được ấn định một cách uy nghiêm bởi 65 數 (Ce sách). TG 2921; L 2494.

34. Số Pháp Thư 數 法 書 (Shu fa shu) (Kinh sách về các phương pháp coi số). TG 2966; L 2502。

35. Tân San Lục Nhâm Đại Độn Bí Truyền 新 刊 六 壬 大 遁 泌 傳 (Xin kan Liu ren da dun bi chuan) (Truyền thống bí mật mới được ấn hành về Ba Pháp 神 歷 雜 忌 法 (Shen li za ji fa) (Các phương pháp khác nhau về lịch trình của các thần linh). TG 3388; L 2521.

42. Thiên Văn Thể 天 文 體 (Tian wen ti) (Cấu trúc (?) của các thiên thể). TG 3543; L 2474.

43. Thông Thư Chính Quyển 通 書 正 巻 (Tong shu zheng quan) Niên Giám: quyển chính thống). TG 3601; L 2497.

44. Thông Thư Quảng Ngọc Hạp Ký 通 書廣 玉 匣 記 (Tong shu guang Yu Xia ji) (Niên Giám cùng với Ngọc Hạp Ký triển khai). In năm 1876. TG 4926; L 2513.

45. Tiền Định Lâp Thành 前 定 立 成 (Qian ding li cheng) ({Cẩm Nang} lập sẵn để xác định số phận đã định). TG 3724; L 2495.

47. Tử Vi Đẩu Số 紫 微 斗 數 (Zi wei dou shu) (Đoán số mệnh theo phương pháp của Tử Vi). TG 4992; L 2515.

48. Tử Vi Đẩu Số Giải Âm 紫 微 斗 數 解 音 (Zi wei dou shu jie yin) (Các sự giải thích và xem ). TG 4104; L 2510.

53. Tuyển Trạch Thông Thư Đại Toàn 選 擇 通 書 大 全 (Xuan ze tong shu da quan) (Các đề tài tuyển trạch từ bản tóm lược tổng quát các niên giám). Một bản sao của MS ghi niên kỳ năm 1880. TG 4044; L 2503.

B. Các Niên Sử Việt Nam

CM 1969 – Trần Văn Vi 陳 文 為 và các tác giả khác, đồng biên tập, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục 欽 定 越 史 通 鑑 綱. Taipei: Guoli zhongyang tushuguan.

SL 1936 – Việt Sử Lược (2009). “Лунно-солнечнЫй каленларЬ на ЛалЬнем Востоке: вЬетнамский вариант” (Âm-Dương (Luni-Solar) lịch tại vùng Viễn Đông: một phiên bản của Việt Nam). ПроблемЫ ДалЬнеƨо Восмока, no. 4: 158-162.

FRIEDSAM, Manfred (2003). “L’enseignement des mathématiques sous les Song et Yuan.” In C. Despeux and C. Nguyen Tri {eds.). Éducation et instruction en Chine, vol. 2 {Les formations spécialisées), Paris/Louvain. Éditions Peeters: 49-68.

GASPARDONE, Emile (1934). “Bibliographie Annamite.” BEFEO, fasc. 1: 1-173.

HAN Qi 韓 琦 Hàn Kỳ (1991). “Zhong Yue lishi shang tian wen xue yu shuxue de jiaoliu 中 越 歷 史 上 天 學 與 數 學 的 交 流 Trung Việt lịch sử thượng văn học dữ số học đích giao lưu (Sự tương tác giữa thiên văn học và số học của Trung Hoa và Việt Nam trong lịch sử).” Zhongguo keji shiliao 中 國 科 技 史 料 Trung quốc khoa kỹ sử liệu, quyển 12.2: 3-8.

Ho Peng Yoke (1964). “Natural phenomena recorded in the Đại Việt sử ký toàn thư, an early Annamese historical source.” Journal of the American Oriental Society, vol. 84.2: 127-149.

Ho Peng Yoke (2003). Chinese Mathematical Astrology: Reaching out to the Stars. London and New York, RoutledgeCurzon.

HUARD, Pierre, và DURAND, Maurice (1954). Connaissance du Viet-Nam. Paris/Hanoi, Imprémerie Nationale/École Française d’Extrême-Orient.

HUCKER, Charles O. (1985, bản in lại năm 1988). A Dictionary of Official titles in Imperial China. Taibei, Southern Materials Center (bản in lại năm 1988; nguyên thủy được ấn hành bởi Stanford University Press năm 1985).

KALINOWSKI, Marc (1983). “Les instruments astro-calendriques des Han et la méthode Liu Ren.” Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient, tập 72: 309-419.

KALINOWSKI, Marc (1989). “La littérature pinatoire dans le Daozang.” Cahiers d’Extrême-Asie, vol. 5: 85-114.

KALINOWSKI, Marc (tr.) (1991). Cosmologie et pination dans la Chine ancienne. Le Compendium de Cinq Agents (Wuxing dayi, VIè siècle). Paris, EFEO.

KALINOWSKI, Marc (éd.) (2003). Divination et société dans la Chine médiévale. Paris, Bibliothèque Nationale de France.

KNOROZOVA, Ekaterina , University of California Press.

MORGAN, Carole (1980). Le Tableau du boeuf du printemps. Étude d’une page de l’almanach chinois. Paris, Collège de France, Institut des Hautes Études Chinoises.

MORGAN, Carole (1987). “La pination d’après les croassements des corbeaux dans les manuscrits de Dunhuang.” Cahiers d’Extrême-Asie, vol. 3: 55-76.

NGUYỄN Đình Hòa (1959). “Chữ Nôm, the Demotic System of Writing in Vietnam.” Journal of the American Oriental Society, vol. 79, no. 4: 270-274.

NGUYỄN Đình Hòa (1990). “Graphemic borrowing from Chinese: the case of chữ nôm, Vietnam’s demotic script.” Bulletin of the Institute of History and Philology, Academia Sinica .

PAPIN, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Paris, Fayard.

POISSON, Emmanuel (2004). Mandarins et subalternes au nord du Viêt Nam (1820-1918) – une bureaucratie à l’épuve. Paris, Maisonneuve et Larose.

POLYAKOV, Aleksei sciences sociales.

TRỊNH Văn Thao (1995). L’École française en Indochine. Paris, Karthala.

VĂN An Vi (2008). “A Thai Divination Kit in the Vietnam Museum of Ethnology.” Asian Ethnology, vol. 67, no. 2: 257-269.

VARGYAS, Gabor (2004). “Thuật Tiên Tri trong Lễ Lên Đồng của Người Bru” : 537-548.

VOLKOV, Alexei (2009). “Mathematics and Mathematics Education in Traditional Vietnam.” Trong sách đồng biên tập bởi E. Robson và J. Stedall, Oxford Handbook of the History of Mathematics, Oxford, Oxford University Press: 153-176.

VOLKOV, Alexei (2012). “Argumentation for State Examinations: Demonstration in Traditional Chinese and Vietnamese mathematics.” Trong sách biên tập bởi K. Chemla, The History of Mathematical Proof in Ancient Traditions, Cambridge, Cambridge University Press: 509-551.

WHITMORE, John. K. (1995). “Cartography in Vietnam,” trong sách đồng biên tập bởi J. B. Harley và David Woodward, The History of Cartography, vol. 2, book 2: 478-508.

Alexei Volkow

Nguồn: Alexei Volkov, Astrology and Hemerology in Tradional Vietnam, Extrême-Orient, Extrême-Occident, 35 – 2013, các trang 113 – 140.

Ngô Bắc dịch

【#4】Khái Quát Các Vấn Đề Liên Quan Chứng Nhận Bản Quyền Logo

Khi tổ chức, cá nhân muốn đăng ký logo thì đương nhiên sẽ phải trải qua nhiều khâu để được cấp chứng nhận bản quyền logo. Để được cấp văn bằng bảo hộ, nghe thì dễ nhưng khi thực hiện lại không thấy vậy nữa.

Bởi quá trình xem xét đơn được kiểm tra rất kỹ, không chỉ xem hình thức đơn mà còn xem logo đăng ký có thỏa điều kiện bảo hộ không. Ấy vậy mà chủ thể đăng ký khi được cấp văn bằng bảo hộ chỉ xem nó hơn một tờ giấy chứ chưa thực sự hiểu hết giá trị của nó.

Hiện nay chứng nhận bản quyền logo được hiểu như thế nào?

Văn bằng bảo hộ của logo có tên gọi là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Được hiểu là việc nhà nước cấp văn bằng bảo hộ cho logo khi tiến hành thủ tục đăng ký theo quy định.

Thông qua quyết định cấp văn bằng bảo hộ, nhà nước Việt Nam sẽ thừa nhận và xác lập quyền sở hữu logo cho người đánh ký.Và ghi nhận đối tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ.

Thông qua quyết định này, cũng nhằm hạn chế những chủ thể xâm phạm tới quyền lợi của chủ thể đăng ký. Bên cạnh đó

Làm thế nào để có được chứng nhận bản quyền logo?

Để có được chứng nhận bản quyền logo thì bạn cần tiến hành đăng ký nhãn hiệu tại cơ quan có thẩm quyền để được xem xét cấp văn bằng bảo hộ.

Cơ quan này vừa xem xét hình thức đơn để kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn. Vừa công bố đơn để xem logo đăng ký có tranh chấp không. Vừa kiểm tra nội dung đơn.

Nhằm đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ. Qua đó xác định phạm vi bảo hộ tương ứng.

Hiệu lực của chứng nhận bản quyền logo hiện nay ra sao?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì văn bằng bảo hộ logo chỉ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Và Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.

Để gia hạn hiệu lực, chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí gia hạn hiệu lực. Mức lệ phí và thủ tục duy trì, gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ do Chính phủ quy định.

Trên đây là những vấn đề khái quát về các vấn đề liên quan chứng nhận bản quyền logo. Nếu quý khách muốn được giải đáp thắc mắc hay tư vấn về thì có thể liên hệ với chúng tôi.

【#5】★ Thiết Bị Spa Thành Phố Hồ Chí Minh Sản Phẩm Không Thể Thiếu

Bạn mong muốn được làm đẹp, được chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất, muốn kinh doanh về spa để có thu nhập cao? Vậy thì còn chần chừ gì nữa mà không đến với thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn đầy đủ các thiết bị spa chăm sóc nhan sắc đáp ứng mọi nhu cầu của bạn.

Thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh rất tốt cho sức khỏe

Để có một sức khỏe tốt và một nhan sắc ai cũng phải ngắm nhìn thì bạn nên đi spa chăm sóc sắc đẹp thường xuyên. Nhưng không phải spa nào cũng có những thiết bị tốt nhất. Nếu thiết bị không tốt sẽ không có ích cho sức khỏe của bạn mà ngược lại sẽ gây tác dụng rất xấu. Thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh sẽ đập tan mọi lo lắng này của bạn. Đây sẽ là những thiết bị tốt nhất dành cho bạn.

Thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh có những gì?

Khi đến với thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi có đầy củ các thiết bị cung cấp, phục vụ cho nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Ghế foot massage là một trong nhưng thiết bị không thể thiếu trong phương pháp foot massage của quá trình kinh doanh spa. Thiết bị có lớp đệm êm ái được bao bọc bởi vải mềm, độ bền cao, không xẹp lún, mang đến cảm giác thư giãn, thoải mái trong suốt quá trình thực hiện liệu trình, có thể đưa khách hàng vào giấc ngủ thật nhẹ nhàng, nhanh chóng. Độ cao của ghế hợp lý mang đến cảm giác thoải mái khi sử dụng.

Máy xóa xăm đốm bằng laze, máy có công dụng xóa các vết đốm trên mặt và trên thân thể như: nám, tàn hương, đồi mồi, nốt ruồi, cũng có thể dùng cho xóa xăm, xóa đi những phần da dư thừa mà khồn chảy máu, không để lại sẹo và có hiệu quả nhanh chóng.

Máy trẻ hóa da HIFU, công nghệ HIFU là viết tắt của High Intensity Focused Ultrasound, sự dụng sóng siêu âm cường độ cao với tần số 3,2 Mhz tác động lên hàng ngàn điểm nhỏ riêng biệt ở lớp biểu bì dưới da để kích thích collagen và elastin được tái sinh một cách mạnh mẽ, thực hiện triệt để vấn dề trẻ hóa da. Thiết bị trẻ hóa da này mang đến hiệu quả tuyệt với chỉ sau một lần trị liệu giúp săn chắc, nâng cơ, tiêu mỡ thừa, tăng tính đàn hồi cho da, tạo nét cho gương mặt.

Một thiết bị spa chắc chắn đã quen thuộc với rất nhiều người Việt Nam đó chính là giường đá muối. Giường đá muối là một sản phẩm kết hợp giữa giường massage, ánh đèn và những viên đá muối. Chính sự kết hợp tuyệt vời đó đã mang lại một lợi ích không hề nhỏ cho sức khỏe và tinh thần của người sử dụng. Sức nóng của những viên đá muối sẽ giúp đào thải các chất độc trong gan và kích thích sự tiết dịch, hỗ trợ cải thiện chức năng hệ tiêu hóa, cải thiện hiệu quả chứng táo bón kinh niên.

Thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh còn rất nhiều các sản phẩm hữu ích khác.

Thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh sự lựa chọn tốt nhất dành cho bạn

Nếu bạn đang có ý định mở tiệm spa, thẩm mĩ và đang tìm những thiết bị spa phù hợp thì hãy đến với thiết bị spa thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi. Đừng ham hàng rẻ tiền và cái lợi ích trước mắt mà tìm mua đến những thiết bị spa giá rẻ, chúng không những khồn mang lại hiệu quả mà còn có thể gây hại cho người dùng và giảm uy tín, thương hiệu của bạn.

Chúng tôi cam kết chỉ bán những thiết bị chính hãng đem lại hiệu quả tối đa với người dùng, Khi đến với shop chúng tôi các bạn sẽ được nghe những tư vấn tận tình nhất về những thiết  bị spa thành phố Hồ Chí Minh phù hợp.

~~~

Chọn mua thiết bị spa, dụng cụ spa, máy móc ngành spa ở quận Thủ Đức TP.HCM

Bạn muốn tìm cơ sở kinh doanh thiết bị spa, dụng cụ spa, máy móc ngành spa ở quận Thủ Đức Ica-ac.com Nhưng bạn lại không biết cơ sở nào là chất lượng và uy tín để có thể đến chọn mua những sản phẩm thiết bị thẩm mỹ mà mình muốn tìm. Bài viết này sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề lo lắng đó bằng cách giới thiệu cho bạn cơ sở kinh doanh thiết bị, máy móc uy tín ở quận Thủ Đức TP.HCM.

Thiết bị spa Bình Minh địa chỉ mua thiết bị spa, dụng cụ spa, máy móc ngành spa ở quận Thủ Đức TP.HCM

Địa chỉ mua thiết bị spa, dụng cụ spa, máy móc ngành spa ở quận Thủ Đức Ica-ac.com nào là chất lượng và uy tín. Để trả lời cho câu hỏi trên cũng như giải quyết thắc mắc của các bạn. Chúng tôi giới thiệu đến bạn một địa chỉ kinh doanh máy móc thiết bị spa nổi tiếng ở quận Thủ Đức Ica-ac.com đó là:

Cửa hàng thiết bị spa Bình Minh đây là nơi chuyên cung cấp các sản phẩm spa, thiết bị spa cũng như các loại máy móc liên quan đến ngành spa chất lượng và chính hãng nhất. Bạn có thể hoàn toàn yên tâm khi chọn mua các loại máy móc, thiết bị ở đây. Các máy móc thiết bị dụng cụ ngành spa nói chung đều được nhập từ Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản đây là những quốc gia đi đầu trong công nghệ thẩm mỹ spa cho đến các dụng cụ chuyên phục vụ cho ngành spa.

Bên cạnh đó là sự đa dạng về máy móc. Tại thiết bị spa Bình Minh bạn có thể tìm được rất nhiều loại máy móc, trang thiết bị liên quan đến ngành spa như máy làm trắng, máy hút mỡ, máy thẩm mỹ, máy triệt lông… Không chỉ vậy cả loại sản phẩm ở đây cũng được đa dạng về công dụng và giả giá thanh. Giúp bạn dễ dàng hơn trong việc chọn mua các sản phẩm sao cho phù hợp với túi tiền những vẫn đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và mục đích sử dụng của bản thân.

Đội ngũ nhân viên ở đây thì rất nhiệt tình và chuyên nghiệp họ sẽ hướng dẫn bạn tỉ mỉ từng bước sử dụng sản phẩm cũng như cung cấp cho bạn đầy đủ các thông tin cơ bản liên quan đến sản phẩm. Như thông số kỹ thuật, công dụng sử dụng, nguồn gốc xuất xứ…Bạn có thể hoàn toàn yên tâm khi mua thiết bị spa, dụng cụ spa, máy móc ngành spa ở quận Thủ Đức TP.HCM

Mua máy móc thiết bị spa ở những cơ sở khác.

Ngoài cơ sở kinh doanh thiết bị spa, dụng cụ spa, máy móc ngành spa ở quận Thủ Đức Ica-ac.com cũng có thể tìm những địa chỉ kinh doanh khác nhưng cần phải đảm bảo tính chất lượng và uy tín trước khi chọn mua các loại sản phẩm ở đó. Bạn có thể tham khảo người thân, người quen về những cơ sở kinh doanh máy móc thiết bị spa để tới đó chọn mua các loại sản phẩm sao cho ưng ý và chọn được sản phẩm chất lượng nhất.

Chúc bạn có thể chọn mua được cho mình những sản phẩm chất lượng nhất qua gợi ý của chúng tôi về địa chỉ mua thiết bị spa, dụng cụ spa, máy móc ngành spa ở quận Thủ Đức TP.HCM