Xem Nhiều 2/2023 #️ Tấm Gương Tự Học Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh # Top 10 Trend | Ica-ac.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tấm Gương Tự Học Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tấm Gương Tự Học Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh mới nhất trên website Ica-ac.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thực tế cho thấy,  để làm được như trên, yêu cầu mỗi con người Việt Nam; đặc biệt là thế hệ trẻ phải ra sức học tập, rèn luyện; biến đó trở thành nhu cầu thiết yếu của mỗi cá nhân. Học tập là điều cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động có mục đích của con người. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập trong đó tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của Người. Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Bác chính là một tấm gương sáng về tự học tập, tự rèn luyện để chúng ta noi theo.

Bác Hồ đã dạy: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ; Học để phụng sự đoàn thể”. Học phải có ý chí quyết tâm để phục vụ nhân dân, chứ không phải học để thăng quan, tiến chức. Đối với Bác, học tập chính là một nhu cầu mà ngay từ thời trẻ đến mãi sau này, khi đã tuổi cao, sức yếu, Người vẫn thường xuyên học tập không chút lơ là.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, lấy tên là Văn Ba làm phụ bếp cho một tàu buôn của Pháp, rời bến Nhà Rồng ra nước ngoài bắt đầu một hành trình lâu dài, gian khổ tìm đường cứu nước. Nguyễn Tất Thành ra đi với hành trang trên vai là chủ nghĩa yêu nước, mang theo một chí hướng lớn với một niềm tin sắt đá: Hẹn ngày trở về giải phóng Tổ quốc và đem lại tự do cho đồng bào. Người đã đến nhiều đất nước khác nhau, đã gặp nhiều màu da, tiếng nói khác nhau, đó là cuộc sống tăm tối cực khổ của nhân dân các nước thuộc đia. Chính từ đây, những nhận thức về giai cấp, tình cảm giai cấp và tinh thần quốc tế vô sản đầu tiên đã hình thành ở Người: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Lòng yêu nước của Người được thể hiện qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu và hoạt động cách mạng. Yêu nước, Người đã tự nguyện chấp nhận cuộc sống làm thuê với đồng tiền công ít ỏi, rẻ mạt để kiếm sống, để hoạt động chính trị. Trong suốt hành trình tìm đường cứu nước, tài sản duy nhất và quý báu nhất của Người lúc đó là hai bàn tay, đôi mắt và con tim, khối óc cùng với khát vọng giải phóng dân tộc. Chính khát vọng đó đã hun đúc cho người thanh niên mảnh khảnh một sức mạnh phi thường, bền bỉ tự học, tự đào tạo để có đủ khả năng cứu nước, cứu dân. Đến đâu, Người cũng học, tìm mọi cách để học. Người tìm hiểu phong tục tập quán ở những nơi mình đi qua để nâng cao tri thức; học nghề để kiếm sống, kiếm sống để hoạt động cách mạng. Bác đã học và làm rất nhiều nghề khác nhau, bắt đầu từ việc làm thợ đốt lò trên tàu viễn dương, làm đầu bếp ở Mỹ, quét tuyết ở Anh, bốc thuốc ở Thái Lan, viết báo, viết truyện, viết kịch, làm thợ chụp ảnh, thợ sửa đồng hồ… Làm rất nhiều việc, nhưng nhờ tự học mà Bác làm việc gì cũng giỏi. Danh họa Picaso đã nhận xét về những bức tranh do Bác vẽ trên báo “Người cùng khổ”: “Chỉ mấy nét vẽ này thôi, ta đã thấy một tư tưởng lớn, một tâm hồn lớn tiềm ẩn bên trong. Nếu tác giả tiếp tục con đường hội họa thì ắt sẽ trở thành một đại danh họa!”. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương phong phú và vô giá, tiêu biểu là tập thơ “Nhật ký trong tù”. Như chúng ta đã biết, học chữ Hán cực kỳ khó, để nắm vững nó và làm thơ thì lại khó hơn gấp bội. Chắc chắn, nếu Bác không có quá trình nỗ lực tự học thì sẽ không làm được điều đó.

 Cuộc đời của Bác là một quá trình vừa học tập vừa hoạt động cách mạng. Học tập để hoạt động cách mạng, đạt được mục đích, lý tưởng của mình; qua hoạt động cách mạng, không ngừng học tập, hoàn thiện tri thức và nhân cách của bản thân. Quá trình ấy đã tạo nên Hồ Chí Minh, một thầy giáo mẫu mực, một nhà giáo dục vĩ đại. Người đã để lại tấm gương cao đẹp về tinh thần tự học và học tập suốt đời mà chúng ta phải noi theo. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII tại Mát-xcơ-va vào tháng 8 năm 1935, Bác đã khai rõ trong lý lịch: “Họ và tên: Lin. Trình độ học vấn: Tự học”. “Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga”. Trên thực tế, dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, chúng ta còn được biết vốn ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở đó, Người còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Thái Lan, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam… vốn ngoại ngữ đó của Bác không phải do tự nhiên mà có, mà chính là cả một quá trình khổ công rèn luyện, học tập của Người.

Việc tự học của Bác Hồ có mục đích cuối cùng là làm cách mạng, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chính là quá trình tự thích nghi, tự tìm tòi thâm nhập thực tiễn, đúc rúc kinh nghiệm, phát huy nội lực. Sâu xa hơn, đó là quá trình tự học, tự giáo dục để làm cho nhân cách và năng lực của mình phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, phù hợp với yêu cầu công việc. Việc tự học của Bác diễn ra suốt cả cuộc đời cách mạng của mình, cho tới khi tuổi cao, sức yếu, Bác vẫn giữ được tinh thần tự học như xưa. Đại tướng Hoàng Văn Thái lại, năm 1969, mỗi lần đến làm việc, ông thường thấy trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường của Bác để nhiều sách báo. Ông lo lắng đến sức khỏe của Bác, nên đề nghị: “Thưa Bác, Bác mệt, Bác nên đọc ít, để nhiều thời gian nghỉ ngơi thư thả cho lại sức”. Bác trả lời, giọng như tâm sự mà dứt khoát từng lời: “Chú bảo Bác không đọc sách báo ư? Dù già yếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là vấn đề nắm vững tình hình chứ!”.  

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Đặc biệt, Người tự học với một động cơ trong sáng với ý nguyện cao cả là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, soi xét trong thực tiễn đã qua, hiện nay và cả mai sau, vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc; đó mãi là một tấm gương sáng ngời, một di sản vô giá đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục của Đảng và nhân dân ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần ghi sâu những lời dạy của Bác, noi theo Người về nghị lực học tập, rèn luyện để có đủ đức, đủ tài phục vụ nhân dân. Tấm gương tự học và những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tự giáo dục mãi mãi tỏa sáng, soi rọi cho mỗi chúng ta phấn đấu, rèn luyện, tự vươn lên trong tu dưỡng bản thân để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.

N.X.D

Về Bức Thư Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Gửi Tướng Trung Hoa Quốc Dân Đảng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã gặp muôn vàn khó khăn, ví như “Ngàn cân treo sợi tóc”. Cùng một lúc, chính phủ cách mạng non trẻ phải đối mặt với vô vàn những khó khăn về kinh tế, xã hội và văn hóa do chế độ thực dân gây ra. Sự khó khăn, phức tạp và bất lợi cho công cuộc bảo vệ chính quyền, giữ gìn độc lập cho dân tộc lại được nhân lên bởi các thế lực thù trong, giặc ngoài đang rắp tâm phá hoại thành quả cách mạng. Đối với quốc tế, chưa có nước nào công nhận nền độc lập và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Sự mất còn của vận mệnh dân tộc là trọng trách nặng nề mà dân tộc đã giao phó cho Đảng, Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Và, trên mặt trận đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này đã xuất hiện một thiên tài ngoại giao – Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người cầm lái vĩ đại đưa con thuyền cách mạng đến bến bờ thắng lợi.

Có rất nhiều tài liệu thể hiện phong cách, tài ngoại giao khôn khéo của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1946, bài viết này xin giới thiệu một tài liệu mới sưu tầm được, đó là bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tướng Trần Tu Hòa – viên tướng cấp cao của Quốc dân Đảng Trung Hoa ngày 19-12-1945.

Tướng Trần Tu Hòa lúc ấy là đại biểu của Tổng bộ Lục quân Quốc dân Đảng Trung Quốc giữ chức vụ Phó trưởng phòng phòng 5 của Bộ Tư lệnh quân đội Trung Quốc tại Việt Nam, phụ trách công tác đối ngoại (Trưởng phòng 5 do Lư Hán kiêm chức).

Theo luật bầu cử của Chính phủ lâm thời công bố ngày 8-9-1945, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 23-12-1945. Các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội đã tìm mọi cách để phá hoại. Chúng tổ chức những cuộc biểu tình thị uy, công kích Chính phủ lâm thời đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu cầu Chính phủ lâm thời phải từ chức. Chúng còn tổ chức các hoạt động ám sát, bắt cóc, gây rối trong xã hội.

Trước tình hình đó, ngày 18-12-1945, tướng Trần Tu Hòa thay mặt Bộ Tư lệnh quân đội Tưởng Giới Thạch ở Việt Nam gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày về đề nghị: Bộ Tư lệnh quân đội Tưởng Giới Thạch ở Việt Nam sẽ đứng ra “điều đình”, thông qua hiệp thương giữa các đảng phái thành lập một Chính phủ liên hiệp lâm thời có đại biểu các tầng lớp tham gia để tổ chức cuộc Tổng tuyển cử và đề nghị Chủ tịch lui thời hạn tiến hành bầu cử lại hai tuần.

Chấp nhận đề nghị của Trần Tu Hòa, cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76 về việc hoãn ngày Tổng tuyển trong toàn cõi Việt Nam đến ngày 6-1-1946 và gia hạn nộp đơn ứng cử kéo dài đến hết ngày 27-12-1945.

Ngày hôm sau, 19-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay viết một bức thư bằng chữ Hán gửi tướng Trần Tu Hòa.

Bút tích thư chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tướng Trần Tu Hòa, 19-12-1945

Bức thư dài 2 trang chữ Hán, được viết bởi nét mực xanh cửu long. Nội dung bức thư như sau:

THƯ GỬI TƯỚNG TRẦN TU HÒA

Kính gửi: Trần Tướng quân,

1- Về việc tổ chức Tổng tuyển cử, đã theo ý kiến của tiên sinh, hoãn lại 2 tuần.

2- Việt Nam độc lập Đồng minh, không phải là một đảng mà là một mặt trận toàn dân, bao gồm các đảng phái (Đảng Dân chủ, phái Xã hội), các phần tử Quốc dân Đảng, Đảng Cộng sản (đã tự động giải tán) và các đoàn thể yêu nước không đảng phái như Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phật giáo cứu quốc, Hội Cơ đốc giáo cứu quốc, v.v..

3- Chính cương của Việt Minh:

A- Liên hiệp lực lượng cả nước để giành lại quyền độc lập, xây dựng một nước Dân chủ Cộng hòa.

Nhân dân có các quyền tự do, dân chủ; nam nữ bình đẳng.

Xây dựng quốc phòng.

B- Về kinh tế: Xoá bỏ mọi thứ thuế má nặng nề do người Pháp, người Nhật đặt ra, thi hành việc thu thuế công bằng và thấp. Phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, thành lập Ngân hàng quốc dân, thực hiện tự chủ về quan thuế, v.v..

C- Về xã hội: Thiết lập nhà dưỡng lão, nhà trẻ, mở nhiều nhà thương, cứu tế những người thất nghiệp, cấm chỉ bán dâm, lập nhà hộ sinh.

D- Về văn hoá: Thực hành chế độ giáo dục bắt buộc, mở nhiều trường học, rạp hát, tổ chức các lớp bình dân học vụ, giúp đỡ những người nghèo mà hiếu học. Phát triển thể dục, đức dục, bãi bỏ học phí nhập học do người Pháp đặt ra.

E- Về ngoại giao: Tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là Trung Quốc. Liên lạc và hỗ trợ các dân tộc bị áp bức.

F- Khẩu hiệu của Việt Minh: liên Hoa, kháng địch, độc lập.

4- Tổ chức của Chính phủ lâm thời Việt Nam:

4- Tổ chức của Chính phủ lâm thời Việt Nam:

Cố vấn:Nguyễn Vĩnh Thụy (Bảo Đại)

Ngoại giao:Hồ Chí Minh (kiêm)

Giao thông:Đào Trọng Kim

Quân huấn:Trương Trung Phụng

Thanh niên:Dương Đức Hiền

Tuyên truyền:Trần Huy Liệu

Y tế:Phạm Ngọc Thạch.

5- Tổ chức các địa phương:

Mỗi thôn, mỗi huyện có một Hội đồng nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra. Hội đồng nhân dân bầu ra một ủy ban chấp hành, phụ trách công việc của địa phương đó.

6- Sau Tổng tuyển cử toàn quốc, những người trúng cử sẽ triệu tập Quốc hội (từ lúc bầu cử xong đến khi họp Quốc hội, thời gian không được quá một tháng). Chính phủ lâm thời sẽ lập tức từ chức toàn thể, Quốc hội sẽ bầu ra một Chính phủ chính thức và quyết định các vấn đề như Quốc kỳ, Quốc huy, v.v..

7- Xin gửi theo một danh sách ứng cử (chỉ có 11 tỉnh Bắc Kỳ, các nơi khác chưa in ra).

Chúc sức khoẻ Tướng quân.

4 giờ 30 chiều, ngày 19 tháng 12

Trong thư, Người thông báo quyết định của Chính phủ Việt Nam sẽ lùi ngày Tổng tuyển cử trong toàn quốc lại hai tuần. Đồng thời, Người cũng giải thích rõ thêm một số vấn đề như tổ chức và thành phần Mặt trận Việt Minh, Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Việt Minh, về tổ chức chính quyền ở địa phương, về việc triệu tập Quốc hội sau khi Tổng tuyển cử toàn quốc. Người còn gửi kèm theo bức thư là một danh sách ứng cử viên tham gia Tổng tuyển cử của 11 tỉnh Bắc Kỳ…

Ngày 1-1-1946, các đảng phái đã hiệp thương với nhau và thành lập Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch. Ngày 6-1-1946, bất chấp khủng bố của kẻ thù, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của chế độ mới đã diễn ra thành công trong cả nước, khẳng định niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như vậy, trong những ngày khó khăn để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, trước vận mệnh của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhạy bén và sáng suốt đưa ra một quyết định phù hợp, nhằm giải quyết kịp thời những nhiệm vụ vô cùng phức tạp và bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt bao ghềnh thác hiểm nguy. Bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh viết gửi tướng Trần Tu Hòa ngày 19-12-1945 là một trong nhiều tài liệu thể hiện tài ứng xử khôn khéo của Người.

Hơn nửa thập kỷ đã trôi qua, bức thư trên đã được gia đình tướng Trần Tu Hòa lưu giữ cẩn thận. Nhân dịp sang thăm Việt Nam, con gái tướng Trần Tu Hòa là bà Trần Tố Dung đã tặng bức thư này cho chúng tôi Ngô Đức Thọ. Ngày 25-2-2014, GS. TS Ngô Đức Thọ đã trao tài liệu này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh để lưu giữ và phát huy tác dụng.

Phí Thị Hồng Vân Bảo tàng Hồ Chí Minh

Vài Suy Nghĩ: Học Tập, Vận Dụng Tư Tưởng Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Trong Sự Nghiệp Đổi Mới Hiện Nay

Trãi qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành di sản vô giá, truyền thống quý báu, một động lực to lớn để dân tộc ta vượt qua khó khăn để tồn tại và phát triển. Trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn cách mạng thế giới đã sớm hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Tiếp tục phát huy truyền thống quý báu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà” (trích Thư Bác gửi đồng bào Công giáo ngày 14/10/1945).

Thực tiễn đã cho thấy, tư tưởng Đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nội dung xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và là cơ sở cho chiến lược của Đảng ta, nhờ có tư tưởng đại đoàn kết đã đem lại những thành công của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết được hình thành trên cơ sở truyền thống đoàn kết, nhân ái, khoan dung, độ lượng của người Việt Nam. Mặt khác, Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về đoàn kết và tập hợp lực lượng. Người đã thấm nhuần quan điểm cách mạng của Mác đó là cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, cho nên cách mạng muốn mạnh trước hết phải đoàn kết đại đa số Nhân dân, mà đại đa số Nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp Nhân dân lao động khác đến đoàn kết các dân tộc, để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì việc thực hiện tư tưởng đại đoàn kết của Người càng có ý nghĩa quan trọng, đó là một trong những nhân tố bảo đảm cho quá trình đổi mới, phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc 90 năm qua là những minh chứng cho việc xây dựng và thực hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

90 năm thực hiện xuyên suốt và nhất quán chiến lược đại đoàn kết dân tộc, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với tình hình, yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trên tinh thần “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân lao động, nguyên tắc hiệp thương dân chủ được coi là “chìa khóa” để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân tộc làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng “đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thực tế, các cuộc vận động xã hội, các phong trào thi đua yêu nước sâu rộng do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phát động và triển khai thực hiện ngày càng đi vào cuộc sống, được các tầng lớp Nhân dân tích cực hưởng ứng. Trong đó, đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo vệ chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống tội phạm, ma túy và các tệ nạn xã hội khác cùng với cuộc vận động xã hội, các phong trào… đã có tác dụng thiết thực, tạo nên sự gắn kết cộng đồng, làm cho tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc thấm sâu vào các tầng lớp Nhân dân, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bến Tre trong những năm qua, thực hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã phát huy tốt vai trò của mình, huy động sức mạnh tổng hợp của các tầng lớp Nhân dân, các tôn giáo, nhân sĩ trí thức, người Bến Tre ở nước ngoài tích cực góp phần xây dựng tỉnh nhà ngày càng giàu đẹp, văn minh, nổi bật đó là tuyên truyền, vận động, đoàn kết Nhân dân xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; chăm lo đời sống Nhân dân, thực hiện công tác an sinh xã hội “không để ai bị bỏ lại phía sau”, không để người dân gặp khó khăn trong lúc hoạn nạn, thiên tai, dịch bệnh,…. Tinh thần yêu nước và tình đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo ngày càng được củng cố và phát huy. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh nhà ngày càng thể hiện được vai trò của mình là cầu nối tin cậy giữa Nhân dân với các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, thật sự là khối đại đoàn kết toàn dân của tỉnh nhà.

Để tiếp tục phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và chuyên đề năm 2020 về ” Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh “. Đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức; trong đó, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Đó là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp Nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm phát huy vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân gắn với thực hiện tốt trách nhiệm của công dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục thực hiện Quy định số 124-QĐ/TW ngày 02/02/2018 của Ban Bí thư về ” Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên “, góp phần xây dựng Đảng và chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh.

Ba là, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong tham gia xây dựng và hoàn thiện một số chính sách để củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, Mặt trận phải đoàn kết rộng rãi mọi thành viên trong xã hội. Mặt trận phải đa dạng hóa các hình thức tập hợp, động viên các tầng lớp Nhân dân để tạo sự đồng thuận trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phát động, tổ chức động viên Nhân dân tham gia các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hoá – xã hội; vận động Nhân dân chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, tăng cường công tác đối ngoại Nhân dân, tích cực vận động, thu hút kiều bào hướng về Tổ quốc, góp sức xây dựng quê hương, đất nước; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng nước sở tại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của kiều bào, đồng thời, khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân có thành tích tiêu biểu.

Năm là, nắm bắt kịp thời để phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân và nỗ lực chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp Nhân dân. Phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng dân cư, các dân tộc, tôn giáo; cùng với việc giải quyết đúng đắn và hợp lý các quan hệ lợi ích, không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là những yếu tố quan trọng để không chỉ phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch mà còn góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hiện nay, chúng ta đang đứng trước những vận hội mới, đồng thời cũng có những thách thức mới. Những vận hội và thách thức đó tác động hàng ngày, hàng giờ đến khối Đại đoàn kết dân tộc. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần phải luôn luôn quán triệt và vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết để huy động tối đa sức mạnh toàn dân tộc thực hiện thành công khát vọng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Thông Tin Đại Lý Yamaha Hồ Chí Minh Mới Nhất

Bạn đang xem bài viết Tấm Gương Tự Học Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trên website Ica-ac.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!