Xem Nhiều 1/2023 #️ Cách Gieo Quẻ Kinh Dịch Bằng 3 Đồng Xu Cổ # Top 9 Trend | Ica-ac.com

Xem Nhiều 1/2023 # Cách Gieo Quẻ Kinh Dịch Bằng 3 Đồng Xu Cổ # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Gieo Quẻ Kinh Dịch Bằng 3 Đồng Xu Cổ mới nhất trên website Ica-ac.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong công trình biên khảo ” Lịch sử Triết học Trung Quốc” của tác giả Phùng Hữu Lan. Khi bàn về nội dung “Phép bói của người Trung Quốc ngày xưa”. Ông đã liệt kê 6 phép dự trắc chính yếu mà ông gọi chung là thuật số, bao gồm: thiên văn, lịch phổ, ngũ hành, thi quy, tạp chiêm, và hình pháp.

Phép bói đồng xu là phép dự trắc thi quy, là một biến thể cái tiến từ phương pháp bói có thi.

Về các hình thức bói

Phép bói giáp cốt có từ đời Thương 商 (1766-1121 TCN).

Phép bói cỏ thi có từ đời Chu 周 (1121-255 TCN).

Phép bói đồng xu được cho là do nhà nghiên cứu Dịch lý nổi tiếng Kinh Phòng thời Tây Hán đề xướng

Các phép bói này đến nay không còn được lưu truyền rộng rãi. Nhưng được dân gian sử dụng các biến thể mới, vay mượn từ ba hình thức bói trên.

Nghi thức gieo quẻ

Gieo quẻ là phương pháp dựa trên luật cảm-ứng, việc bói muốn thành công phải có lễ nghi và thành khẩn.

Trong bốc phệ có luật cảm ứng (nếu ta có thể gọi đó là luật). Người xem bói phải cảm (tức là thành khẩn) thì thần minh mới ứng (đáp ứng, trả lời). Những người bói toán thường vịn vào đây để chống chế cho những lời giải đoán sai lạc tối tăm của họ: Vì người xem bói không thành khẩn nên quẻ bói không linh nghiệm.

Sự thành khẩn phải thể hiện cụ thể, từ thái độ trân trọng vật để bói cho đến nghi thức tiến hành phép bói. Ngô Tất Tố ghi chép khá kỹ về nghi thức bốc phệ. Nào là cách làm nhà chứa cỏ thi, cách giữ gìn, cách bố trí chỗ bói, nào là cách khấn vái, cúng lạy, v.v. Chính lời khấn vái này phản ánh mục đích người xem bói: “Mượn ngươi vật bói lớn (đọc 2 lần). Tôi (chức tước, họ tên) vì việc chưa biết nên hay chăng, vậy đem lời nghi hoặc hỏi thần linh. Việc sẽ lành dữ, được mất, hối tiếc hay lo sợ, ngươi có thiêng hãy bảo cho rõ.”

Mục đích của gieo quẻ Kinh Dịch

Mục đích của gieo quẻ dịch Mỗi khi gặp sự việc mà bản thân còn hoài nghi chưa rõ. Muốn biết sự vật lành dữ, tốt xấu thế nào. Người ta thường xem quẻ để xin câu trả lời từ Kinh Dịch. Có rất nhiều cách gieo quẻ, nhưng căn bản nhất vẫn là cách dùng 3 đồng xu để gieo quẻ.

Tuy nhiên, cũng không nên đừng quá lạm dụng Kinh Dịch quá nhiều sẽ mất đi linh thiêng (cảm-ứng). Chỉ khi nào thực sự cần thì hãy xem, nếu bạn gieo quẻ nhiều quá bạn sẽ bị lệ thuộc và mất đi chánh kiến của bản thân mình.

Phàm người hành sự, tất có sai có đúng, phải có thất bại mới có thành công. Đức Phật đã dạy về “Tứ Diệu Đế”. Trong đó có Khổ Đế, chính là chân lý về sự Khổ. Chỉ có trải qua Khổ Đế thì mới có sự giác ngộ, mới nhận thấy được chân lý của cuộc sống.

Công cụ lập quẻ

1. Chuẩn bị sẵn 3 đồng xu

Để gieo quẻ dịch, tốt nhất là ba đồng xu cổ. Bởi người xưa cho rằng, những đồng xu cổ, trải qua thời gian dài, nó tích tụ được linh khí của trời đất, trải qua quá trình lưu chuyển của con người. Vậy nên hội tụ đủ 3 yếu tố: Thiên, Địa, Nhân. Có người còn yêu cầu cả những đồng tiền của những triều đại hoàng kim như đời Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, Gia Khánh vì nó mang khí cường thịnh của quốc gia thời đó. Nhưng theo tôi, đây là yếu tố không cần thiết.

2. Mai rùa

Vì sao phải dùng mai rùa để gieo quẻ?

Đầu tiên, Quy là một trong bốn tứ linh, nhưng chỉ có Quy(rùa) là có thật, còn ba linh vật kia là huyền thoại, chỉ nghe nói, chưa ai thấy. Quy đứng đầu tứ linh. Theo Vương Hữu Tam, sùng bái tứ linh, nhất là sùng bái rùa là một hình thức của tôn giáo nguyên thủy của Trung Quốc.

Thứ 2, Quy là biểu tượng của tài phú, ngoài việc dùng để bói còn là một hàng hóa giá trị, thậm chí được sử dụng là một thứ tiền tệ thời cổ xưa.

Thứ 3, Quy có tuổi thọ cao, biến hóa khôn lường, sống ở cả trên cạn và dưới nước, nên linh vật này được dùng để bói.

Thứ 4, Quy là biểu tượng tam tài: thiên địa nhân. Lưng rùa (quy bối) cong tròn lên, tượng trưng cho vòm trời; yếm rùa (phúc giáp) phẳng và có góc cạnh, tượng trưng cho đất, ứng với thuyết thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông).

Đó là bốn lý do vì sao người ta sử dụng mai rùa, nhưng không phải vì thế mà chúng ta sát hại Rùa để lấy mai gieo quẻ, như thế càng làm sát khí của mai rùa thêm nặng, gieo quẻ sẽ phản tác dụng. Vì vậy, chỉ nên dùng những mai rùa chết do bệnh tật, do già yếu, do tự nhiên…

Ngày nay, mai rùa khan hiếm, chúng ta có thể sử dụng lòng bàn tay, dùng 2 tay úp như mua rùa để gieo quẻ cũng được, miễn sao tâm thành thì quẻ ứng.

3. Cái đĩa to

Dùng một cái đĩa để thả đồng xu khi gieo quẻ. Tốt nhất dùng dĩa to, bằng gỗ hoặc có thể bằng xứ. Làm sao để khi thả xa thì không bị bắn tung tóe ra ngoài. Không nên dùng đĩa kim loại vì kim loại có từ tính, sẽ làm nhiễu loạn tầng sóng năng lượng khi gieo quẻ.

4. Bút và giấy

Chuẩn bị bút và giấy để ghi lại 6 hào ở 6 lần gieo quẻ. Mỗi khi gieo, phải tính toán kết quả mỗi lần là âm hay dương, lão âm hay lão dương, để xét hào động.

Cách thức gieo quẻ Kinh Dịch

Người gieo quẻ tiến hành gieo quẻ bằng cách đặt 3 đồng xu vào mai rùa, nếu không có mai rùa thì đặt vào trong lòng bàn tay, dùng hai tay úp vào nhau. Sau đó tĩnh tâm, không nói luyên thuyên, không cười đùa, không để môi trường xung quanh tác động đến suy nghĩ của mình, cần phải thực sự nghiêm túc về việc cần hỏi của mình.

Điều quan trọng nữa là không được suy nghĩ theo hướng mình muốn về sự việc, không cầu được mất, không cầu thành bại, không sợ hãi, lo lắng, chỉ cần tập trung vào câu hỏi mình cần hỏi. Tâm bạn cần phải an, để không bị chi phối bởi quẻ.

Sau đó tiến hành xóc đều mai rùa, hoặc nếu dùng tay thì xóc tay rồi thả lên đĩa. Xóc và thả 3 đồng xu đúng 6 lần. Mỗi lần gieo xong bạn lại ghi kết quả lên đĩa, vạch liền hoặc đứt, động hoặc không động.

Các trường hợp khi gieo 3 đồng xu

Khi thả 3 đồng xu xuống thì có 4 trường hợp xảy ra.

1 đồng ngửa, 2 đồng sấp: Hào âm ghi một vạch đứt : – –

3 đồng đều ngửa : Hào âm động (lão âm) ghi thêm: – – x

Bạn xem phần này để biết kỹ và sau đó ở mỗi lần thả 3 đồng xu thì hãy ghi lại như trên. Trong đó

Hào có dấu chữ “o” là hào dương động, hào có dấu chữ “x” gọi là hào âm động.

Trong quẻ hào có đánh dấu “o” và hào có dấu “x” gọi là hào động. Động thì biến, dương động biến thành âm, âm động biến thành dương.

Trong một quẻ sáu hào toàn động thì toàn biến, sáu hào đều không động là không biến. Một vạch liền là “thiếu dương”, 2 vạch đứt là “thiếu âm”.

Vòng tròn “o” là “lão dương” chủ về việc quá khứ, dấu “x” là “lão âm” chủ về việc tương lai. Vòng tròn “o” là hào động, dấu “x” là hào biến

Ví dụ dễ hiểu

Bạn lưu ý thứ tự ghi chép của 6 lần thả đồng xu thì được ghi chép từ dưới lên.

Lần 6: N N N – 3 đồng đều ngửa : Hào âm động (lão âm) ghi thêm: – – x

Lần 4: N S S – 1 đồng ngửa, 2 đồng sấp: Hào âm ghi một vạch đứt : – –

Lần 2: N S S – 1 đồng ngửa, 2 đồng sấp: Hào âm ghi một vạch đứt : – –

Như vậy sau 6 lần gieo quẻ, ta có được thượng quái là Khảm-Thủy, hạ quái là Ly-Hỏa. Kết luận quẻ là: Thủy Hỏa Ký Tế.

An quẻ Lục Hào

Sau khi lập được một quẻ Dịch, bước tiếp theo là chúng ta cần an quẻ lục hào để tính toán. Để an quẻ lục hào bạn cần thực hiện rất nhiều bước và có kiến thức chuyên môn tốt. Để thuận tiện cho việc an quẻ nhanh nhất, chúng tôi đã xây dựng sẵn phần mềm an quẻ lục hào

Nhiều người hay thắc mắc hỏi: Vậy phần mềm an quẻ dịch lục hào ở đâu?

Trả lời: Bạn có thể truy cập website https://simkinhdich.com/boi-dich/luc-hao để tiến hành an quẻ. Chúng tôi đảm bảo đây chính là những công cụ chính xác và chi tiết nhất hiện tại.

Cám ơn các bạn đã đọc hết bài viết này, hi vọng nó mang lại sự hữu ích!

Hướng Dẫn Gieo Quẻ Dịch Bằng Đồng Xu

Kinh Dịch là 1 trong ngũ kinh nổi tiếng bật nhất của Trung Hoa. Ngoài việc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực trong đời sống như y học, đạo học, phong thủy… Kinh dịch còn biết đến như 1 cuốn sách bói toán, nhờ đó mà thoát được ngọn lửa đốt sách chôn nho của vua Tần Thủy Hoàng. Vậy để bói quẻ Kinh Dịch thì có nhiều cách khác nhau như bói bằng cỏ thi, bói bằng mai rùa v.v.. Đến thời Thiệu Khang Tiết tiên sinh do các cách bói trước rất phức tạp nên ông đã chế ra cách bói bằng 3 đồng xu cũng ứng nghiệm không kém những cách khác.

Bói bằng 3 đồng xu cổ của trung hoa, 3 đồng xu tượng trưng cho thiên địa nhân tức là trời, dất và người. Xu hình tròn tượng trưng cho trời, có lỗ vuông tượng trưng cho đất. Trong giới bốc phệ thì hay dùng xu thời Càn Long vì trên đồng xu có chữ càn tượng trưng cho trời. Nhưng theo nghĩ và ứng dụng thử thì dùng đồng xu nào cũng ứng quẻ được hết, cái quan trọng là 3 đồng xu phải giống nhau và người gieo phải thành tâm.

bạn chuẩn bị cho mình 3 đồng xu giống nhau, nên dùng đồng mỏng một chút. Một cái đĩa để gieo quẻ hoặc gieo trên mặt bàn cũng được tránh gieo trên những vật bằng kim loại.

Chuẩn bị tinh thần gieo quẻ:

Người xưa thường tấm rửa sạch sẽ, chay tịnh 3 ngày, xông hương tay, đốt nhang khấn để cầu hỏi những việc lớn. Mình nghĩ bạn làm được những việc trên trước khi gieo quẻ cũng rất tốt. Nếu trong điều kiện không thể làm được thì chỉ cần lắng tâm 1 phút là được.

Bắt đầu gieo quẻ bằng xu

Đặt 3 đồng xu trong lòng bàn tay và áp tay này lên tay kia để vậy trong vòng 1 phút để năng lượng của bạn hòa hợp với năng lượng của của xu, đồng thời lúc đó bạn lắng lòng quy ước mặt sắp hay ngửa của đồng xu. Ví dụ với xu cổ thì có người quy ước mặt chữ là mặt âm, mặt số (hay mặt hình là mặt dương). Ở dây mình quy ước theo xu cổ cho dễ ví dụ mặt chữ sẽ là âm, mặt số là dương.

Tiếp đến bạn có thể khấn hỏi các đấng thiên liêng mà trong lòng bạn muốn hỏi, hoặc không hỏi ai cũng không sao chỉ lắng tâm, nghĩ tới câu hỏi của mình thì ứng quẻ vì theo quy luật đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, hể thành tâm, cung kính cầu thì ứng.

Khi gieo ta có 3 quy tắc để xác định hào (1 hào là 1 vạch trong quẻ) là âm hay dương như sau:

Một sắp (âm) hai ngửa (dương) thì ta viết 1 nét đứt (nét đứt biểu trưng cho âm) (- -). Vì theo quy luật quả thị chúng tức là cái ít làm chủ cái nhiều như 1 công ty chỉ có 1 giám đốc vậy. Ngược lại cũng vậy một ngửa hai sấp thì được 1 hào dương 1 nét liền (-).

Nếu 3 đồng đều giống nhau là hào biến hay còn gọi là hào động, tức là nếu 3 đồng đều sắp thì được hào âm (- -) nhưng sẽ biến thành hòa dương ở quẻ biến, và ngược lại nếu 3 đồng đều ngửa được hào dương (-) và biến thành hào âm.

Ghi hào từ dưới lên, nhưng đọc quẻ thì tứ trên xuống

Quẻ gốc (quẻ biểu trưng cho nguyên nhân sự việc)

Mai Rùa Gieo Quẻ Dịch

Trong công trình biên khảo ” Lịch sử Triết học Trung Quốc” của tác giả Phùng Hữu Lan. Khi bàn về nội dung “Phép bói của người Trung Quốc ngày xưa”. Ông đã iệt kê 6 phép dự trắc chính yếu mà ông gọi chung là thuật số 術數, bao gồm: thiên văn 天文 (astrology), lịch phổ 歷譜 (almanacs), ngũ hành 五行 (five elements), thi quy 蓍龜 (yarrow stalk divination and tortoise shell divination), tạp chiêm 雜占 (miscellaneous divinations), và hình pháp 形法 (system of forms). Trong bài viết này chúng tôi giới hạn đề tài ở ba phép bói: bói giáp cốt, bói cỏ thi, và bói đồng xu. Thật ra là hai phép mà Phùng Hữu Lan gọi chung là thi quy. Phép bói đồng xu (coin oracle) là biến dạng của bói cỏ thi.

Về các hình thức bói:

– Phép bói giáp cốt có từ đời Thương 商 (1766-1121 tcn). – Phép bói cỏ thi có từ đời Chu 周 (1121-255 tcn). – Phép bói đồng xu không rõ xuất hiện tự bao giờ. Các phép bói này về cơ bản bản chất dụng sựi luận đoán đến nay gần như không lưu truyền rộng rãi, Dân gian hiện nay đang dùng chỉ là vay mượn mà thôi.

CĂN NGUYÊN VIỆC BỐC PHỆ

Xã hội phương Đông (Trung Hoa, An Nam, Cao Ly…) cổ đại đắm chìm trong bầu không khí thần bí, mê tín. Người dân thuở ấy tin rằng người và vũ trụ có mối tương quan mật thiết. Họ tin tưởng và quy phục những thế lực siêu nhiên và từ đó nảy sinh tín ngưỡng đa thần (多神論 polytheism); và cũng từ đó nảy sinh giới phù thủy, đồng cốt, thầy cúng, thầy bói… Chính những người này đã vẽ vời những nghi thức cúng tế, xếp đặt ngôi vị cho các thiện thần và ác thần. Đến đời Hạ 夏 (2205-1766 tcn), đời Thương 商 (1766-1121 tcn), quan niệm Thiên 天 và Đế 帝 xuất hiện. Tín ngưỡng nhất thần (一神論 monotheism) ra đời với ảnh hưởng mạnh mẽ và được truyền bá song hành với tín ngưỡng đa thần.

NGHI THỨC BỐC PHỆ-LUẬT CẢM ỨNG

Mục đích bói đã rõ, nhưng việc bói muốn thành công phải có lễ nghi và thành khẩn. Trong bốc phệ có luật cảm ứng (nếu ta có thể gọi đó là luật). Người xem bói (enquirer) phải cảm (tức là thành khẩn) thì thần minh mới ứng (đáp ứng, trả lời). Những người bói toán thường vin vào đây để chống chế cho những lời giải đoán sai lạc tối tăm của họ: Vì người xem bói không thành khẩn nên quẻ bói không linh nghiệm.

Sự thành khẩn phải thể hiện cụ thể, từ thái độ trân trọng vật để bói cho đến nghi thức tiến hành phép bói. Ngô Tất Tố ghi chép khá kỹ về nghi thức bốc phệ. Nào là cách làm nhà chứa cỏ thi, cách giữ gìn, cách bố trí chỗ bói, nào là cách khấn vái, cúng lạy, v.v. Chính lời khấn vái này phản ánh mục đích người xem bói: “Mượn ngươi vật bói lớn (đọc 2 lần). Tôi (chức tước, họ tên) vì việc chưa biết nên hay chăng, vậy đem lời nghi hoặc hỏi thần linh. Việc sẽ lành dữ, được mất, hối tiếc hay lo sợ, ngươi có thiêng hãy bảo cho rõ.”

John Blofeld, trong quyển I Ching (The ancient Chinese Book of Divination) của ông, đã tóm tắt cách bói trong 11 điều, trong đó có 4 điều về nghi thức sau khi ông dành trọn hai chương nói về bói Dịch. Tôi dịch 4 điều đó như sau:

1. Khi không dùng Kinh Dịch, hãy bọc sách lại sạch sẽ bằng vải hay lụa và để chỗ cao thích hợp, thấp nhất là ngang vai người lớn đứng thẳng. Các thẻ bói (divining sticks) được đặt trong hộp có nắp đậy và không được dùng cho mục đích khác. Đặt hộp thẻ bói kế bên quyển Kinh Dịch. (Blofeld thay cỏ thi bằng những thẻ tre chừng 1-2 feet, cỡ kim đan áo len).

2. Trước lúc lập quẻ bói, lấy Kinh Dịch xuống, đặt lên bàn giữa phòng, hướng về phía Nam. Trên bàn còn đặt bát nhang (incense burner), 50 thẻ bói, hai khay nhỏ, và giấy bút.

3. Người xem bói quỳ trước bàn, lưng xoay về phía Nam, lạy 3 lạy (the enquirer prostrates himself thrice), đốt nhang và khấn (khấn thầm hoặc ra tiếng). Trong lúc khấn, tay phải cầm 50 thẻ bói đảo 3 vòng theo chiều kim đồng hồ trong khói hương xông lên. Sau đó lập quẻ bói và đoán.

4. Khi bói xong, thắp một nén nhang nữa, lạy 3 lạy, cất dụng cụ bói về chỗ cũ.

Các nhà nghiên cứu Kinh Dịch trình bày hơi khác nhau về nghi thức bói nhưng đại khái đều nhấn mạnh đến sự thành khẩn.

BÓI GIÁP CỐT VÀ GIÁP CỐT VĂN

Trong hai chữ bốc phệ, bốc 卜 tức là phép bói rùa (bói giáp cốt) và phệ 筮 là phép bói bằng cỏ thi. Phép bói giáp cốt có từ đời Thương. Giáp 甲 ở đây là quy giáp 龜甲 (mai rùa: tortoise shell, tortoise carapace). Cốt ở đây là xương bả vai (scapula) cuả thú vật (bò hoặc nai). Theo Bản Thảo Cương Mục, mai rùa để bói là của loài thủy quy 水龜 (rùa nước), loài này rất giống một loài rùa có tên khoa học là reevesii. Nhưng các nhà khảo cổ khảo sát những mai rùa đào được ở An Dương lại cho rằng đó là loài địa quy 地龜 (rùa đất, land tortoise), tên khoa học là pseudocadia anyangensis nay đã tuyệt chủng.

Cách bói bằng mai rùa và xương thú được gọi là bốc卜. Chữ bốc gồm một nét dọc (tung) và một nét ngang (hoành) tượng trưng nét nứt trên mai rùa sau khi bị hơ nóng (Chích quy chi hình, quy triệu chi tung hoành dã 炙龜之形龜兆之縰橫也).[23] Nguyễn Hiến Lê hiểu quy giáp là yếm rùa chứ không phải mai rùa (có lẽ vì yếm rùa dễ nứt hơn?)[24] Lưu Ngọc Kiến 劉玉建 trong Trung Quốc Cổ Đại Quy Bốc Văn Hóa 中國古代龜卜文化 [25] đã trưng dẫn nhiều hình ảnh về những mảnh quy giáp bao gồm cả mai rùa (bối giáp 背甲) lẫn yếm rùa (phúc giáp 腹甲). Thực tế người ta còn đào được những mảnh giáp kiều 甲橋 (phần hông tiếp giáp bối giáp và phúc giáp) có khắc chữ.

Nhưng tại sao lại dùng mai rùa? Linh mục Larre trong bài thuyết trình tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp (Saigon, 1965) về Đạo Xử Kỷ Tiếp Vật Trong Kinh Dịch (Le savoir vivre dans le Livre des Mutations) bảo cổ nhân dùng mai rùa vì rùa là một vũ trụ thu nhỏ. Mai rùa tượng trưng cho vòm trời, bốn chân tượng trưng cho đất. Còn cỏ thi (l’achillée millefeuille) là cỏ thiêng có thể cảm ứng được những biến dịch trong vũ trụ. Charles Poncé thì bảo rùa là vật mang sự minh triết (the carrier of wisdom), không những biết được những bí mật dưới đáy biển mà còn ôm ấp những bí mật ấy trong bụng. Rùa sống được dưới nước lẫn trên đất, nó dung hòa hai hành tương khắc trong ngũ hành 五行 là thủy 水 (nước) và thổ 土 (đất)

Thật ra người Trung quốc cổ đại có nhiều phép bói tùy theo nhóm dân tộc. Hán tộc dùng cốt bốc骨卜 (bói xương), quy bốc龜卜 (bói rùa), thi phệ 蓍筮 (bói cỏ thi). Đó là ba phép bói chính thống được sử dụng trong ba vương triều : Hạ 夏, Thương 商, và Chu 周. Các dân thiểu số lại có các phép bói riêng như: tộc Khổ Thông 苦聰 bói bằng cỏ (thảo), trứng gà (kê đản); tộc Ngõa 佤 (nay chủ yếu phân bố ở tỉnh Vân Nam) bói bằng gan trâu, gan bò (ngưu can), xương gà (kê cốt); tộc Lê 黎 (nay ở Quảng Đông) bói bằng gà (kê), đá (thạch), nắm bùn (nê bao); tộc Cảnh Pha 景頗 (nay ở Vân Nam) bói bằng tre trúc (trúc); tộc Lật Túc 傈僳 (đọc là lisu, nay ở tỉnh Vân Nam) bói bằng dao (đao), vỏ sò vỏ ốc (bối xác); tộc Di 彝 (nay ở Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu) bói bằng xương bả vai của con dê (dương kiên giáp cốt 羊 肩 胛 骨); tộc Khương 羌 (nay ở Tứ Xuyên) bói bằng trứng gà (kê đản), lông dê (dương mao), v.v…[29] Điều này chính Tư Mã Thiên cũng xác nhận: “Tam vương bất đồng quy, tứ di các dị bốc.” 三王不同龜四夷各異卜 (Sử Ký, Quy sách liệt truyện 龜策列傳). Hán tộc sùng bái rùa vì rùa là một trong bốn linh vật như Lễ Ký đã xác định: “Hà vị chi tứ linh? Lân, phụng, quy, long vị chi tứ linh.” 何謂之四靈麟鳳龜龍謂之四靈 (Bốn linh vật là gì? Lân, phượng, rùa và rồng được gọi là tứ linh) (Lễ Ký 禮記, Lễ vận 禮運). Trong tứ linh chỉ có quy là có thật còn ba linh vật kia là huyền thoại, chỉ nghe nói, chưa ai thấy. Quy đứng đầu tứ linh. Theo Vương Hữu Tam 王友三. sùng bái tứ linh, nhất là sùng bái rùa là một hình thức của tôn giáo nguyên thủy của Trung Quốc.

Ý NGHĨA CỦA RÙA TRONG BÓI DỊCH VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN

(1) Quy được xem là vật trân bảo, tầm cỡ quốc bảo. Kinh Thư (Hạ Thư-Vũ Cống) có câu : “Cửu Giang nạp tích đại quy.” 九江納錫大龜 (Dân Cửu Giang phải cống nạp rùa lớn). Khổng An Quốc nói: “Xích nhị thốn viết đại quy, xuất ư Cửu Giang thủy trung, quy bất thường dụng, tích mệnh nhi nạp chi.” 尺二寸曰大龜出於九江水中龜不常用錫命而納之 (Rùa một thước hai tấc gọi là đại quy, phát xuất từ Cửu Giang,[34] rùa này người ta không thường dùng, mà theo lệnh phải cống nạp). Kinh Thư (Chu Thư-Đại Cáo) có câu: “Ninh Vương di ngã đại bảo quy, thiệu thiên minh tức mệnh.” 寧王遺我大寶龜紹天明即命 (Vua Ninh Vương [tức là Vũ Vương] di tặng cho ta con rùa lớn rất quý báu dùng để xem mệnh Trời). Lễ Ký(chương Lễ Khí) chép: “Chư hầu dĩ quy vi bảo.” 諸侯以龜為寶 (Chư hầu xem rùa là vật báu). Khổng Dĩnh Đạt chú sớ: “Chư hầu dĩ quy vi bảo giả, chư hầu hữu bảo thổ chi trọng nghi tu chiêm tường cát hung, cố đắc dĩ quy vi bảo dã.” 諸侯以龜為寶者諸侯有保土之重宜須占詳吉凶故得以龜為寶也 (Chư hầu xem rùa là vật báu vì việc quan trọng là bảo vệ lãnh thổ, nên cần xem bói để rõ việc tốt xấu. Vì thế khi được rùa, xem đó là vật báu).

(2) Quy là biểu tượng của sự tài phú. Hán Thư (chương Thực Hóa Chí 食貨誌) nói: “Thực vị nông thực gia cốc khả thực chi vật. Hóa vị bố bạch khả ý, cập kim đao quy bối, sở dĩ phân tài bố lợi thông hữu vô dã. Nhị giả sinh dân chi bản, hưng tự Thần Nông chi thế… Thực túc hóa thông, nhiên hậu quốc thực dân phú, nhi giáo hóa thành.” 食謂農殖嘉谷可食之物貨謂布帛可衣及金刀龜貝所以分財布利通有無也而者生民之本興自神農之世… 食足貨通然後國實民富而教化成 (Thực phẩm là những thứ nhà nông trồng trọt cày cấy và ăn được. Hóa là những thứ vải bố vải lụa có thể mặc cho đến vàng, dao, rùa, vỏ sò nhằm phân bố tài lợi và lưu thông vật chất giữa chỗ có và chỗ không. Cả hai thứ ấy là điều cơ bản của đời sống dân chúng. Chúng hưng thịnh từ đời Thần Nông về sau… Lương thực đầy đủ, hàng hóa lưu thông thì nước mạnh dân giàu, và rồi việc giáo hóa dân chúng mới thành tựu). Như vậy quy giáp ngoài việc dùng để bói còn là một hàng hóa giá trị, thậm chí được sử dụng là một thứ tiền (hóa tệ 貨幣).

(3) Quy có tuổi thọ cao, biến hóa khôn lường nên linh vật này được dùng để bói. Luận Hành của Vương Sung, chương Bốc Phệ, có ghi chép cuộc đối thoại giữa Khổng Tử và cao đệ là Tử Lộ: “Tử Lộ vấn Khổng Tử viết: Trư kiên dương bác khả dĩ đắc triệu, hoan vĩ cao mao khả dĩ đắc số, hà tất dĩ thi quy? Khổng Tử viết: Bất nhiên. Cái thủ kỳ danh dã. Phù thi chi vi ngôn kỳ dã, quy chi vi ngôn cựu dã. Minh hồ nghi chi sự, đương vấn kỳ cựu dã.” 子路問孔子曰豬肩羊膊可以得兆雚葦藳芼可以得數何必以蓍龜孔子曰不然蓋取其名也夫蓍之為言耆也龜之為言舊也明狐疑之事當問耆舊也 (Tử Lộ hỏi Khổng Tử rằng: Thưa Thầy, xương vai heo, xương bả vai dê đều có thể [hơ nóng để tìm vết nứt mà] bói; cỏ hoan, cỏ vĩ, cỏ cao và cỏ mao cũng có thế bói xem số mệnh, việc gì mà phải dùng cỏ thi và mai rùa? Khổng Tử đáp: Không phải như vậy. Ấy bởi vì cái tên của chúng.Nói chung, thi [cỏ thi] là gọi từ kỳ [bậc kỳ lão sống lâu],còn quy là gọi từ cựu [cố cựu, lâu đời]. Muốn hiểu rõ việc mình đang hồ nghi thì phải hỏi han người kỳ cựu vậy).

(4) Quy là biểu tượng tam tài: thiên địa nhân. Lưng rùa (quy bối) cong tròn lên, tượng trưng cho vòm trời; yếm rùa (phúc giáp) phẳng và có góc cạnh, tượng trưng cho đất, ứng với thuyết thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông). Sách Chu Bễ Toán Kinh 周髀算經 nói: “Phương thuộc địa, viên thuộc thiên, thiên viên địa phương.” 方屬地圓屬天天圓地方 (Vuông là thuộc tính của đất, tròn là thuộc tính của trời, nên trời tròn và đất vuông). Dịch Truyện (thuyết quái) nói: “Càn vi thiên, vi viên.” 乾為天為圓 (Càn là trời, thì tròn). Lã Thị Xuân Thu 呂氏春秋 (thiên Viên Đạo 圓道) viết: “Thiên viên nhi địa phương, thánh vương pháp chi, sở dĩ lập thượng hạ.” 天圓而地方聖王法之所以立上下 (Trời tròn mà đất vuông, bậc thánh vương noi theo đó mà ấn định phép tắc có trật tự trên dưới). Rùa theo truyền thuyết bị bà Nữ Oa 女媧 chặt chân làm cột chống trời,

Bói Toán Bằng Kinh Dịch

Ðiều khó khăn trong việc xem bói không phải là ở hình thức. Nghi lễ bói tuy phiền phức, rườm rà nhưng chỉ cần nhớ các thao tác là có thể làm được. Cái khó của việc xem bói là phán đoán sau khi gieo được quẻ. Cần nhạy cảm, lật đi lật lại, cân nhắc kỹ lưỡng, phán đoán chu đáo. Nhà dự đoán học không chỉ có dựa vào quẻ bói, mà phải có kinh nghiệm dồi dào, mẫn cảm với tình hình thực tế để từ đó suy đoán sự việc cho hợp lôgic, phân tích vần đề một cách biện chứng; không nên tôn sùng một cách cứng nhắc, duy tâm.

Dịch hay Chu Dịch gồm hai phần: Dịch kinh và Dịch truyện. Dịch kinh là một cuốn sách bói, gồm 64 quẻ, xuất phát từ tám quẻ ( bát quái) , mỗi quẻ có 6 vạch. Dưới mỗi vạch có lời đoán theo các mục như hôn nhân, xuất hành…

Lời đoán có thể kèm theo những lời khuyên đạo đức. Người đoán quẻ lập luận theo nguyên lý “âm dương giao cảm”

Tương truyền bát quái do Phục Hy, một nhân vật thần thoại hàng vạn năm trước làm ra. Lời đoán gọi là Quái từ, Hào từ. Quái từ do vua Văn Vương nhà Chu (thế kỷ 12 trước Công nguyên), còn Hào từ do Chu Công, em Văn Vương làm ra. Dịch truyện gồm 10 thiên, gọi là “Thập dực “. Đó là một tác phẩm triết học, trong đó thiên “Hệ từ ” có nội dung phong phú hơn cả.

Đáng chú ý là khả năng dự báo của Dịch. Thiệu Vĩ Hoa, một “ngôi sao Dịch học”, đã viết cuốn Chu Dịch với dự đoán học, với số lượng phát hành kỷ lục tại Trung Quốc. Sách đã được ra tiếng Việt. Tương truyền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đang đàm đạo về Dịch thì có tiếng gõ cửa, ông liền bấm một quẻ và đoán được người hàng xóm sang mượn búa. Mở cửa thì đúng như vậy! Ông được xem là người biết việc trước và sau 500 năm, trên cơ sở bốn câu sấm ký, đoán đúng 81 năm Pháp thuộc của đất nước: Cửu càn khôn dĩ định/Thanh minh thời tiết hoa tàn/Trực đáo dương đầu, mã vĩ. Hồ binh bát vạn nhập Tràng An.

Nếu vậy thì câu xưng tụng của Thiệu Vĩ Hoa, xem Chu Dịch là (Đại số học vũ trụ), (Hòn ngọc của vương miện khoa học) không phải là quá lời. Vậy đâu là cơ sở khoa học cho những dự đoán thần diệu này? Có thật nếu nắm được những tinh diệu của Dịch, có thể đoán được tương lai? Có thể đặt ra câu hỏi có nhiều tính triết học hơn: Vũ trụ và sự sống, cũng như xã hội loài người là ngẫu nhiên hay nhất định? Trong bài này chúng tôi thử đưa ra một lời giải cho những câu hỏi đó.

Lôgic 64 quẻ Dịch

Trong Hệ từ, viết: Dịch có Thái cực, sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái. Đây chính là cơ sở, là logic nội tại của Dịch. Vì vậy cần xem xét các khái niệm Thái cực, Lưỡng nghi, Tứ tượng, Bát quái và sự biến dịch giữa chúng.

Thái cực chính là chữ Đạo của lão tử, là bản thể của vũ trụ, cơ sở của vạn vật, căn nguyên của vũ trụ, nên nó “vô thủy vô chung” (không có khởi đầu và kết cục), “bất sinh bất diệt”, (tồn tại vĩnh hằng, không đổi không dời), bao trùm tất cả vạn vật, đồng thời có trong mỗi vật cá biệt. Quan niệm như thế về bản thể vũ trụ không phải là không có lý. Lưỡng nghi là âm dương, hai phương thức của Thái cực, tương phản, đối lập, mâu thuẫn và cũng thống nhất với nhau. Do sự đấu tranh của chúng mà hình thành sự đa hóa, phân hóa, phát triển. Lưỡng nghi cũng là trời và đất, lấy dương thay cho trời, lấy âm thay cho đất. Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, tức là âm dương kết hợp, tương giao tạo nên bốn tượng: Hào dương hợp với hào dương là thái dương, hào dương hợp với hào âm là thái âm, hào âm hợp với hào dương là thiếu dương, hào âm với hào âm là thái âm. Nói cách khác, thuần dương là thái dương, thuần âm là thái âm, một âm trên một dương là thiếu âm, một dương trên một âm là thiếu dương. Người xưa lấy Tứ tượng tượng trưng cho bốn phương, cũng cho bốn mùa, tức tứ thời.

Tứ tượng sinh ra Bát quái, vẫn là âm dương kết hợp mà thành. Hào dương kết hợp với thái dương, thiếu âm, thiếu dương, thái âm tạo thành bốn quẻ: Càn, Đoài, Ly, Chấn. Hào âm hợp với tứ tượng thành bốn quẻ: Tốn, Khảm, Cấn, Khôn tổng cộng là tám quẻ, tức bát quái. Đó cũng là tám phương tám tiết. Tám (tiểu thành quái) trên kết hợp với nhau, tạo thành 64 (đại thành quái), mỗi quẻ có 6 hào hay 3 tượng. Có thể tìm số quẻ theo cách khác: Vì mỗi quẻ có 3 trong tổng số 4 tượng, nên theo ngôn ngữ toán học, số chỉnh hợp 3 chập 4 là 43 = 64. Sự tương đương giữa 64 quẻ Dịch và 64 codon (mỗi codon gồm 3 trong số 4 nucleonit), mã di truyền xác định các axit amin trong sinh học chỉ mang tính hình thức trong toán học, chứ không có mối quan hệ biện chứng nào cả. Người xưa xem mọi biến dịch trong vũ trụ đều không ngoài 64 quẻ đó. Bậc trí giả với các học thuyết của thánh hiền, tự xem (ngồi trong nhà mà như đứng giữa ngã ba đường), cái gì cũng biết là vì vậy. Đó chính là logic nội tại của Dịch, một logic không dễ diễn giải dưới ngôn ngữ của khoa học.

Dịch theo khoa học hiện đại

Theo chúng tôi, “Thái cực” chính là Big Bang, khởi thủy của vũ trụ; Lưỡng nghi là đối ngẫu sóng-hạt của các hạt cơ bản; Tứ tượng là 4 trường lực cơ bản điều khiển vũ trụ. Một số quẻ Dịch là những khái niệm, phạm trù, quy luật triết học duy vật biện chứng. Khi đó sẽ giải thích tính biện chứng của logic nội tại và khả năng dự báo của Dịch.

Dù tự nhiên muôn hình vạn trạng, vật lý học xác định, vũ trụ chỉ do 4 trường lực-hấp dẫn, điện từ, yếu và mạnh-điều khiển. Hấp dẫn là tương tác giữa các vật có trọng lượng, điện từ-giữa các vật mang điện. Đây là hai lực tầm xa, không giới hạn khoảng cách. Yếu và mạnh là hai lực hạt nhân cường độ lớn nhưng tầm ngắn, chỉ trong phạm vi hạt nhân nguyên tử. Bốn trường lực trên cường độ rất khác nhau. Nếu tương tác mạnh có cường độ tương đối là 1, thì điện từ 10-2, yếu 10-5, điện từ 10-39 ! Lý thuyết trường lượng tử cho rằng, 4 lực trên do các lượng tử chuyển tải: gluon và meson chuyển tương tác mạnh, boson trung gian-yếu, photon-điện từ và graviton-hấp dẫn. Grsviton chưa được nhận cân bằng thực nghiệm vì cường độ lực hấp dẫn quá nhỏ. Khoa học chưa phát hiện loại trường nào khác. Trường sinh học chỉ là giả thuyết của số ít nhà khoa học.

Vai trò của các tương tác trên trong vũ trụ khác nhau. Hai tương tác hạt nhân quy định cấu trúc hạt nhân nguyên tử. Tương tác điện từ quyết định cấu trúc nguyên-phân tử, chất rắn, chất lỏng, chất khí và quan trọng trong thiên văn. Hấp dẫn quyết định việc hình thành hành tinh, các sao và thiên hà. Chính vì vậy, sự sống, hình thức vận động mới của vật chất từ mức tế bào, được chi phối bởi tương tác điện từ là chính. Nối gót Einstein, vật lý đang thống nhất các trường lực cơ bản. Trường siêu thống nhất, Thái cực của Dịch, xuất hiện tại chính thời điểm khai sinh vũ trụ. Khoảng 1 tỷ năm trước, vũ trụ khởi đầu bằng vụ nổ dữ dội (Big Bang) tại một điểm kỳ dị trong không-thời gian, nơi mật độ năng lượng và sự cong không-thời gian là vô hạn. Đó là nơi ngự trị trường siêu thống nhất, hợp nhất 4 trường nói trên. Sau Big Bang, vũ trụ giãn nở và nguội dần. Từ khởi thủy đến 10-43 giây chưa biết diễn biến vũ trụ ra sao, vì vật lý chưa xây đựng được lý thuyết hấp dẫn lượng tử. Sau 10-43 giây, trường siêu thống nhất tách thành điện từ và đại thống nhất. Lúc này vũ trụ có nhiệt độ 1032 độ K, mật độ 10-94 g/cm3 và kích thước 10-33cm. Tới 10-35 giây, vũ trụ lạnh còn 1027 độ K, trường đại thống nhất tách thành tương tác mạnh và yếu. Từ 10-35 tới 10-32 giây, vũ trụ trải qua giai đoạn” lạm phát “, với kích thước hơn 1030 lần và đã bằng quả nho! Vũ trụ lúc này là món súp đậm đặc, gồm quark và lepton, do lực hấp dẫn, mạnh và điện yếu điều khiển. Đến 10-10 giây sau vụ nổ, tương tác điện yếu tách thành điện từ và yếu, hoàn tất việc biến trường siêu thống nhất thành 4 lực điều khiển như vũ trụ ngày nay.

Về hình thức, logic của Dịch Thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng phù hợp với vũ trụ luận trên. Có thể xem Thái cực là Big Bang, nơi vũ trụ là cái một, cái duy nhất. Lưỡng nghi là đối ngẫu sóng- hạt: Vật chất có đồng thời tính sóng và hạt, hai tính chất này mâu thuẫn và thống nhất nhau. Tứ tượng là bốn trường lực cơ bản. Tứ tượng không sinh đồng thời, mà (một sinh hai, hai sinh ba), (ba) sinh bốn, bốn sinh vô cùng. Lão tử tỏ ra chính xác.

Phương Đông xem Thái cực vô thủy vô chung, nhưng khoa học thấy vũ trụ có khởi đầu và có kết thúc. Theo Einstein, nếu mật độ vật chất trung bình của vũ trụ nhỏ hơn giá trị 5,8 x 10-27 kg/ m3, tương đương 3,5 nguyên tử hydro và mọi chênh lệch năng lượng biến mất do sự giãn nở vô hạn. Nếu lớn hơn, lực hấp dẫn dần thắng sự giãn nở và vũ trụ bắt đầu co lại. Quá trình diễn biến ngược (vụ nổ lớn) và đạt tới (vụ co lớn) Big Crunch, khi các lực thống nhất lại. Vũ trụ quay về cái một, chuẩn bị bùng nổ tiếp. Trường hợp này thú vị, vì giải thích được nguyên nhân Big Bang của ta do Big Crunch trước mà không cần Thượng Đế.

Theo giáo sư Cao Xuân Huy, trong 64 quẻ, ba quẻ Thái, Bĩ và Đồng nhân tiêu biểu cho quá trình biện chứng của Dịch. Chữ Thái nghĩa là thông, quẻ Thái (Càn hạ, Khôn thượng) nói lên sự hanh thông, thông lọt của người đi xem bói, vì rằng trong quẻ này, Càn (dương năng động, tích cực) ở dưới làm cơ sở cho Khôn (âm), do đó âm dương giao thông và hài hòa nhau. Tiếp theo là Bĩ, phản diện của Thái. Quẻ Bĩ (Khôn hạ, Càn thượng), cái âm, cái tiêu cực làm cơ sở cho cái dương, cái tích cực, thế không vững nên bế tắc, không lưu thông được.

Quẻ Bĩ phủ định quẻ Thái, nhưng tiếp theo nó là quẻ Đồng nhân, phủ định quẻ Bĩ hay phủ định cái phủ định. Quẻ Đồng nhân (Ly hạ, Càn thượng): Ly tượng trưng cho lửa, Càn tượng trưng cho trời. Lửa bay trên vòm trời; lửa và vòm trời cảm ứng với nhau. Hào giữa của Ly là âm, hào giữa của Càn là dương, thế thì âm dương tương ứng , giao hòa. Nên quẻ Đồng nhân nói sự thông lọt cao hơn sự thông lọt của quẻ Thái. Quẻ Thái nói sự hanh thông của một cá thể, quẻ Đồng nhân là sự hanh thông của cá nhân trong sự giao hòa với người khác, với số đông. Văy quẻ Thái là chính đề; quẻ Bĩ là phản đề, là phủ định; quẻ Đồng nhân là hợp đề của chính đề, là phủ định của phủ định. Nói cách khác, một số quẻ Dịch chính là những phạm trù, quy luật triết học duy vật biện chứng. Xin nói thêm, do kiến thức hạn hẹp, chúng tôi chưa mối liên hệ giữa bát quái với một lĩnh vực khoa học nào. Nhưng có thể suy luận, chúng có thể gắn với sinh học, với sự sống để tạo bước chuyển giữa 4 trường lực cơ bản và quy luật triết học.

Khả năng dự báo của chu dịch

Có thể xem Chu Dịch là một ngôn ngữ, một hệ quan điểm, một thuật toán, một triết học về vũ trụ, về những biến dịch trong vũ trụ. Vì logic hình thức có phần đúng, nên xem 64 quẻ Dịch bao trùm vũ trụ cũng không phải là vô lý. Vấn đề là khả năng thực đạt đến mức độ nào. Nói cách khác, có thể lượng hóa khả năng dự báo của Dịch hay không?

Từ những điều đã nói, chúng tôi cho rằng, logic của Dịch đúng khoảng 60 – 80%, một tỷ lệ rất cao cho một lý thuyết đã có từ ngàn năm trước. Tuy nhiên đó là do mới chỉ xét tính tất yếu của các quy luật phát triển mà chưa xét vai trò của ngẫu nhiên, điều triết học duy vật biện chứng đã nói từ lâu và khoa học đang quan tâm nguyên cứu. Vũ trụ diễn biến ngẫu nhiên hay nhất định? Nếu hoàn toàn nhất định, có thể dự đoán chính xác tương lai xa tùy ý, miễn là xây dựng được một lý thuyết tốt. Nếu hoàn toàn ngẫu nhiên, dự báo là không thể. Nếu vừa nhất định vừa ngẫu nhiên, có thể dự báo phương hướng mà không biết những thông tin cụ thể. Nói một người sẽ chết là tuyệt đối đúng, nhưng không thể nói khi nào chết dựa vào ngày sinh tháng đẻ.

Hơn 20 năm nay, một lĩnh vực nằm giữa toán và vật lý ra đời, đó là tất loạn (chaos). Chaos cho thấy, các phương trình tất định, chảng hạn định luật Newton, cũng có thể cho kết quả không tất định. Trong sinh học, cuộc đấu tranh giữa hai quan điểm , sự sống là (tiền định) hay ngẫu nhiên cũng cho kết quả hòa. Vì thế, giáo sư Gell-Mann, bộ óc vật lý siêu việt nhất nửa cuối thế kỷ XX, giải Nobel về mô hình quark của hạt cơ bản, cho rằng: “Các ngẫu nhiên và các quark giải thích được vũ trụ, sự sống và mọi thứ khác” (The Sunday Times).

Nói cách khác, biến dịch vũ trụ vừa có tính tất yếu của quy luật khách quan, vừa có tính ngẫu nhiên do bản chất thống kê của tương tác giữa vô số các hợp phần. Kết quả là dự báo của Chu Dịch chỉ đúng 30-40%, tương tự như các dự báo khác, kể cả dự báo ngẫu nhiên! Trạng Trình độn đúng việc mượn búa của hàng xóm nên được giải thích đơn giản bằng thống kê: Do kinh nghiệm quá khứ, biến cố đố có xác suất lớn nhất! Không đủ chứng lý để nói 500 năm trước, ông đã dự báo đúng 81 năm Pháp thuộc, vì các con số là sản phẩm của bộ óc con người.

Kết luận:

Về mặt nhận thức luận, hiểu biết con người từ thấp tới cao, từ ít tới nhiều, từ đơn giản tới phức tạp trên cơ sở trình độ khoa học của xã hội đương thời. Quá trình nhận thức càng ngày càng gần, nhưng không bao giờ đạt tới hiểu biết cuối cùng. Một lý thuyết từ hàng năm trước, khi khoa học còn khá sơ khai, không thể phản ánh tốt hiện thực khách quan. Trực giác người xưa là đáng khâm phục, nhưng tâm lý học nhân thức cho thấy, trực giác chỉ có ý nghĩa khi đủ thông tin. Theo thiển ý, Dịch dự đoán được 1/3 các biến cố, tương đương như chiêm tinh học. Có thể vì thế chưa một nhà Dịch học nào đưa ra con số thống kê so sánh tỉ lệ dự báo đúng và sai. Thiếu những thống kê khoa học như vậy, khả năng dư báo của Dịch còn chưa đủ sức thuyết phục. Tất nhiên đây chỉ là ý kiến cá nhân, và chúng tôi sẽ rất biết ơn, nếu được bạn đọc xa gần chỉ giáo.

(VNI News Online

Bạn đang xem bài viết Cách Gieo Quẻ Kinh Dịch Bằng 3 Đồng Xu Cổ trên website Ica-ac.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!